Top 10 Bài văn cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (lớp 12) hay nhất

16-05-2021 10 37 0 0

Báo lỗi

Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu, với phong thái sáng tác giàu tính hình tượng trong nền văn học nước nhà. Những tác phẩm của ông luôn khiến người đọc phải trằn trọc, suy nghĩ rất nhiều. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một mẩu truyện giàu sức gợi như thế. Hình ảnh người đàn bà làng chài là hình ảnh để lại trong lòng người nhiều ám ảnh, trăn trở về cuộc sống của con người trong giai đoạn đổi mới. Mời những bạn tìm hiểu thêm một số bài văn cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài hay nhất mà Toplist đã tổng hợp trong bài viết dưới đây.

12345678910

1


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 1

Trong cuộc sống phức tạp này, thực sự đôi khi không phải là điều ngay trước mắt mà thực sự là cái ẩn giấu bên trọng. Vì vậy muốn nhìn nhận đúng về cuộc sống về con người, chúng ta phải nhìn vào cái bên trong, thực chất thật, nhìn cuộc sống một cách đa diện. Giống như nhân vật người đàn bà làng chài của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa. Mang vẻ bề ngoài xấu xí, nhưng phẩm chất bên trong lại cực kì đẹp đẽ.

Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu được viết vào năm 1983 và đến 1985 trong tập “Bến quê” tác phẩm là sản phẩm con người đời thương. Truyện kể về sự việc nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đi tới vùng biên này mong tìm được một Bức hình cho bộ lịch. Sau gần một tuần tìm kiếm, sau cuối anh cũng tìm thấy một cảnh đắt trời cho “Trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của danh họa thời cổ”. Nhưng vừa như phát hiện một chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn thì bất ngờ anh phát hiện ra cảnh bao lực gia đình. Với sự xuất hiện người đàn bà làng chài gây ấn tượng lớn cho người đọc và người nghe.

Người đàn bà làng chài, không được gọi tên. Chỉ được gọi bằng những đại từ “Người đàn bà, bà…” Người đàn bà chạc 40 tuổi, mang thân hình quen thuộc của người vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, mặt rỗ. Người đàn bà có ngoại hình thật xấu xí và phi thẩm mĩ. Trước kia, người đàn bà này sống ở phố. Con một gia đình khá, nhưng không ai lấy vì xấu. Chị đã có mang với anh làng chài và đã có cuộc sống hôn nhân với anh. Người khác nhìn vào cho rằng đây là địa ngục vì ba ngày chị bị một trận nhỏ, năm ngày chị bị một trận lớn. Đúng vậy cuộc sống của chị thật đáng thương và khổ cực. Chị khổ cả về thân xác và tinh thần, giống bao gia đình làng chài khác, gia đình chị đông con. Nhà thì nghèo khó. Thuyền thì bé, có những lần da đình chị phải ăn xương rồng luộc chấm muối. Một cuộc sống không thể nào khổ hơn.

Người ta nhiều khi khổ về vật chất, nhưng tinh thần đầy đủ cũng là hạnh phúc ” một túp lều tranh hai trai tim vàng”. Nhưng chị đâu được thế cuộc sống tinh thần của chị còn khổ hơn. Người đàn ông xấu xí – anh xã chị, một phần vì cuốc sống làm cho tính cách hắn hung bạ. Hắn dùng cách giải thoát sự bức xúc bằng phương pháp đánh đập chị, chửa rửa chị và những con chị “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Bị những trận đòn roi những cái quất mạnh của chông tàn bạo, nhưng chị vẫn “Với vẻ mặt cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không tìm cách chống trả, không tìm cách chạy trốn. Trận đòn roi chỉ dừng lại khi thằng phác lao tới cứu mẹ và đánh lại bố”. Cả hai mẹ con chỉ biết khóc. Người đàn bà kể trước kia khi con còn nhỏ, hắn đánh chị trên thuyền. Sau khi con lớn, chị xin hắn đưa lên bờ rồi đánh. Chúng ta thấy rằng cuộc sống của chị thật khó khăn, chị chỉ biết cam chịu và đôi khi đó là sự ngu dốt.

Nhưng thực chất bên trong còn nhiều điều mà mọi người vẫn chưa rõ. Khi chánh án đầu gợi ý li hôn, chị nhất định không chịu, van nài xin không li hôn, nhận hết trách nhiệm, tội nỗi lên đầu mình. Vì sao ư? Vì chị là một người am hiểu lẽ đời, cho dù thất học. Chị hiểu rằng tên con thuyền này cần một người đàn ông chèo chống vượt qua phong ba và nuôi cho sống con của chị, chị cũng rất cảm thông cho anh xã chị, xưa là một con người cực tình nhưng không lúc nào đánh vợ. Nhưng cũng vì cuộc sống khó khăn, làm cho người đàn ông đâm ra đánh vợ con, chị nhẫn nhục cam chịu, nhận hết trách nhiệm về bản thân mình. Nhận vì mình đẻ nhiều con mà cuộc sống khổ cực. Ngoài cam chịu, chấp thuận hi sinh, cuộc sống của chị còn có thú vui đó là khi những con chị được ăn no, mặc ấm.

Người mẹ nào cũng vậy, thấy những con mình hạnh phúc, thì bản thân hạnh phúc gấp một trăm lần rồi. Và đôi khi gia đình chị cũng hòa thuận, đầm ấm, vui vẻ chị còn có lòng tự trọng cao. Chị biết xấu hổ khi có người khác biết truyện mình bị đánh, đặc biệt là thằng Phác. Người chị yêu thương nhất “Cái thằng con từ tính khí đến mặt mũi giống như lột từ cái lão đàn ông đã hành hạ mụ”. Chị đã khóc khi phùng nhắc tới thằng Phác. Chị thương con cực kì, chị cũng mang lại cho Đẩu và Phùng những bài học quý giá.

Nguyễn Minh Châu đã thành công trong việc dùng nghệ thuật đối lập. Một bên là người đàn bà xấu xí, phi thẩm mĩ, một bên là vẻ đáng thương, phẩm chất bên trong của con người đáng trân trọng. Người đàn bà trong truyện là người có cốt cách bên trong, biết nhìn xa, thương đàn con nhỏ, giàu đức hi sinh, lòng vị tha, thương chông, thương con am hiểu lẽ đời, sẵn sàng hi sinh bản thân về hạnh phúc, no ấm cho anh xã, cho con. Đây đó là những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.

Qua hình ảnh người đàn bà trong truyện chúng ta thấy người phụ nữ Việt Nam vẫn giữ được những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Á Đông. Dù vẻ ngoài không đẹp nhưng bên trong luôn có phẩm chất cao quý. Luôn nghĩ tới gia đình, hạnh phúc nhỏ của tớ, sẵn sàng hi sinh mọi thứ để giữ gìn, chăm sóc gia đình, hạnh phúc đó đó là con cái của mẹ. Người phụ nữ mang một lòng vị tha cao quý, những khác lạ của người phụ nữ làng chài, phụ nữ ngày nay năng động hơn, làm chủ cuộc sống hơn, làm chủ được kinh tế.

Họ không thể phải nhẫn nhục chịu trận đòn roi của anh xã. Họ yêu thương anh xã con, họ cần một người đàn ông chèo kéo mái ấm gia đình, là tình nhân thương gia đình, yêu thương vợ con. Nhưng nếu là người đàn ông vũ phu đánh đập vợ con, họ sẵn sàng báo cơ quan tính năng để bảo vệ quyền lợi hạnh phúc của gia đình mình. Bên cạnh đó vẫn còn đấy đấy những người phụ nữ nhu mì, hèn nhát, nhẫn nhục sẵn sàng chịu đựng đòn roi của anh xã, cố bấu víu lấy cái hạnh phúc chỉ có trong ảo tưởng, sống không tồn tại lập trường. Họ cần phải thay đổi cách sống, cách suy nghĩ tới giải pháp sau cuối để giải thoát tìm hạnh phúc, cho mình thời điểm để đến với hạnh phúc đích thực.

Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa đã cho ta thấy sự đối lập, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ. Chúng ta cần phải nhìn cuộc sống và tâm hồn đa diện, phải tìm kiếm, khám phá cái thực chất bên trong, từ vẻ bề ngoài của người đàn bà trong truyện yêu thương anh xã con hi sinh cao quý.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)


2


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 2

Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời chống Mĩ, cũng là “người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học từ sau 1975. Nhà nghiên cứu hàng đầu Nga Ni Culin nhận xét: “những nhân vật của Nguyễn Minh Châu trước 1980 được Nguyễn Minh Châu tắm rửa sạch sẽ, được xung quanh trong bầu không khí vô trùng”. Ta hoàn toàn có thể thấy Điều đó qua nhân vật Nguyệt trong “Trăng sáng”. Giai đoạn sau này, nổi trội là truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mang nhiều cảm hứng thế sự cùng những triết lí nhân sinh hơn. Nhưng quan điểm sáng tác của ông là “gắng đi tìm những hạt ngọc còn ẩn giấu trong bề rộng tâm hồn con người” thì không thay đổi. Nhân vật trung tâm của tình huống truyện nghịch lý trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” đó là người đàn bà hàng chài. Từ nhân vật này, nhà văn bộc lộ tấm lòng nhân đạo và gửi gắm những bức thông điệp về nghệ thuật và cuộc đời.

Đọc tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” ta thấy nhân vật người đàn bà hàng chài được nhà văn giới thiệu là người đàn bà trạc ngoài 40. Và khi đề cập đến nhân vật này Nguyễn Minh Châu không gọi bằng một chiếc tên cụ thể nào cả mà gọi một cách phiếm định: “mụ”, “người đàn bà hàng chài”… Việc nhà văn không đặt tên cho nhân vật của tớ không phải ngẫu nhiên vô tình mà đó là một dụng ý nghệ thuật sâu xa: Ông muốn nhấn mạnh đây chỉ là một trong vô số những người đàn bà đau khổ, xấu số, cần cảm thông sẻ chia mà thôi.

Người đàn bà hàng chài mang một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển với những nét thô, mặt rỗ “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và có vẻ như buồn ngủ. Đây đó là hình ảnh một người lao động lam lũ và đau khổ. Có lẽ gánh nặng của cuộc mưu sinh đầy sóng gió trên biển cả đã ấy đi toàn bộ của chị: sinh lực, thú vui và sức sống. Sự nghèo khổ nhọc nhằn đến mức nhếch nhác, thảm hại còn hiện rõ trong chi tiết mô tả tấm lưng áo bạc phếch, rách nát rưới, nửa thân dưới ướt sũng. Sự khốn khổ của chị còn hiện ra ngay trong dáng vẻ: “sợ sệt, lúng túng” khi ở tòa án, “tìm tới một góc tường để ngồi”. Thậm chí khi Đẩu phải mời đến lần thứ hai chị mới “rón rén đến ngồi ghé vào mép chiếc ghé và cố thu người lại”. Có lẽ đó là dáng vẻ của một con người tội nghiệp luôn thấy sự có mặt của tớ trong cuộc đời này là một phi lí, luôn mặc cảm, tự ti và do đó muốn giảm thiểu sự vướng víu, phiền phức đến khó chịu mà mình hoàn toàn có thể gây ra cho mọi người xung quanh.

Nguyễn Minh Châu không những dừng lại ở vẻ ngoài của nhân vật mà ngòi bút thấm đẫm tinh thần nhân đạo của ông đã lách thật sâu để khám phá cho được cái mạch ngầm hiện thực về số phận xấu số của người đàn bà hàng chài. Ấn tượng lớn nhất về sự xấu số mà người đàn bà đưa và cho người đọc đó là thái độ cam chịu nhẫn nhục của chị. Khi đi qua bãi xe tăng hỏng trước lúc đến bên chiếc xe, người đàn bà đứng lại “ngước mắt nhìn ra ngoài ….rồi đưa một cánh tay lên định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống đưa cặp mắt nhìn xuống chân”. hoàn toàn có thể nhận thấy đây là nơi quá quen thuộc với chị, một sự quen thuộc khủng khiếp bởi những trận đòn đã thành lệ của người anh xã: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cặp mắt nhìn xuống chân mệt mỏi như một kẻ tội đồ chờ đón một hình phạt không tránh khỏi. Khi bị đánh dã man, người đàn bà chịu đòn với vẻ cam chịu nhẫn nhục, đó là thái độ của một con người đang nhẫn nhục tiến hành nghĩa vụ đau khổ của tớ, không oán thán, không bất bình, không tránh mặt.

Người đàn bà hàng chài không những bị hành hạ về mặt thân xác, mệt mỏi sau những đêm thức trắng kéo lưới, không những chịu đựng những đau đớn từ những trận đòn tàn bạo của người anh xã vũ phu mà còn bị giày vò nặng nề về những đau đớn tinh thần, về sự non nớp lo sợ con cái bị tổn thương khi phải chứng kiến những cảnh đời trái ngang. Mô tả hình ảnh một người mẹ vừa khóc vừa phải “chấp tay vái mấy vái để đứa con để nó đừng phảm phải một tội ác trái luân thường đạo lí”. Nguyễn Minh Châu đã thể hiện nỗi xót thương cho sự đau khổ cùng cực của người đàn bà hàng chài. vẫn chưa hết, chị còn bị gánh nặng cơm áo, cuộc sống nghèo túng đẩy vào cái vòng quẩn quanh xấu số. Trước năm 1975 mỗi khi biển động cả nhà toàn ăn xương rồng luộc chấm muối. Khi cách mạng về cuộc sống đỡ đói khổ hơn nhưng nỗi lo cơm áo vẫn còn đấy đấy đó.

Từ thân phận người đàn bà hàng chài, Nguyễn Minh Châu muốn gợi ra cho người đọc những suy nghĩ âu lo: trận đánh đấu chống lại đói nghèo tăm tối và bạo lực còn gian truân lâu dài hơn trận đánh đấu chống ngoại xâm. Và chừng nào còn vẫn chưa thoát khỏi cuộc sống đói nghèo chừng đó con người vẫn phải chung sống với cái xấu, cái ác. Chúng ta đã đổ xương máu trong bao năm qua để giành được độc lập tự do trong trận đánh đấu vì quyền sống của cả dân tộc. Nhưng chúng ta sẽ còn phải tiếp tục làm gì đây trong trận đánh đấu giành quyền sống của từng con người, làm gì để đem lại cơm ăn áo mặc và ánh sáng văn hóa cho biết bao con người đang đắm chìm trong kiếp sống đói nghèo u tối.

Nếu bạn đọc từng yêu nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu thì sẽ thấy không ở đâu yếu tố “thiên nữ tính” lại thăng hoa tuyệt vời như ở người đàn bà rách nát rưới này. Vẻ đẹp khuất lấp mà người đọc cảm nhận được trước hết ở người đàn bà hàng chài đó là vẻ đẹp sâu sắc từng trải. Nói chuyện với Đẩu và Phùng, người đàn bà hàng chài quê mùa thất học hiểu lẽ đời khiến Đẩu và Phùng trở thành những người nông nổi, hời hợt. trong những khi Đẩu và Phùng bất bình trước người anh xã tàn nhẫn, thấy ông ta là kẻ độc ác nhất thì người đàn bà hàng chài đã giúp họ nhận thấy bao điều sâu xa của cuộc sống. Chị cho biết: anh xã chị vốn là anh con trai hiền lành, cục tính, nhưng rơi vào cuộc sống luẩn quẩn, bế tắc cho nên trở thành kẻ tha hóa, vũ phu tàn nhẫn. Đó là một sự nhìn nhận sâu xa, thấu hiểu lẽ đời. Người đàn chỉ rõ sự thiếu trong thực tiễn của Đẩu và Phùng: “Lòng những chú đâu phải là người làm ăn… cho nên những chú đâu có hiểu được cái việc của người làm ăn lam lũ khó nhọc”. Người đàn bà hàng chài đã chỉ ra một hiện thực tàn nhẫn: họ cần một người đàn ông để chèo chống lúc phong ba sóng gió dù hắn có man dợ, tàn bạo đến đâu.

Như vậy, chị đã cho Phùng và Đẩu thấy được sự khó khăn gấp bội của những người đàn bà trong những cuộc mưu sinh trên biển cả, luôn bất cập, tiềm tàng những mối đe dọa, đe dọa. Người đàn bà hàng chài còn chỉ ra sự bất cập trong cuộc sống của Đảng, của chính quyền Cách mạng. Chị cho thấy từ ngày cách mạng về, cách mạng đã cấp đất cho họ nhưng chẳng ai ở vì không thể bỏ được nghề bởi sự tồn tại của họ gắn chặt với nghề. Tiếng thở dài của Đẩu, câu hỏi do dự, tò mò của Phùng, cảm giác bất lực của hai người khi nhận thấy những giải pháp xuất phát từ lòng tốt và thiện chí của họ trở thành phi trong thực tiễn. Những điều đó đã tạo ra một đối sánh với người đàn bà hàng chài từng trải, hiểu đời, hiểu người, hiểu những điều hoàn toàn có thể và không thể. Sự sâu sắc của chị khiến người đọc cảm phục nhưng cũng xót thương cho một kiếp người.

Người đàn bà hàng chài chấp thuận những trận đòn vũ phu độc ác của người anh xã không phải vì chị ngu muội. Cũng không phải vì chị có tội lỗi gì với anh xã mà chị cam chịu, nhẫn nhục những trận đòn đó không những vì trên thuyền cần một người đàn ông mà còn như một cách giúp người anh xã vơi đi những u uất khổ sở chất chứa trong lòng. Đó là cách xử sự của một con người nắm vững bổn phận nghĩa vụ của tớ và gắng tiến hành cho xong, đâu đó là những bổn phận và nghĩa vụ phi lí. không những thấu hiểu sót xa cho nỗi khổ của người anh xã, người đàn bà hàng chài còn mang một mặc cảm tội lỗi khi cho rằng “giá tôi đẻ ít đi” hoặc “chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn”. Nếu Đẩu và Phùng đều ngạc nhiên và bất bình thay cho sự cam chịu nhẫn nhục của người vợ bị anh xã hành hạ thì khi hiểu được nguyên nhân của thái độ ấy, họ càng ngạc nhiên vì sự nhân hậu, vị tha của tấm lòng người đàn bà hàng chài.

Tình mẫu tử được người đàn bà ý thức sâu sắc như một thiên tính đương nhiên của người phụ nữ “đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Chính tình thương yêu sâu sắc với con đã khiến chị nhẫn nhục chịu đựng sự tàn nhẫn của người anh xã vì muốn có một người đàn ông khỏe mạnh biết nghề cùng mình làm ăn nuôi nấng những con. Cũng vì sợ con tổn thương trước cảnh bạo lực gia đình, chị đã xin anh xã đưa mình lên bờ mà đánh, sợ đứa con làm điều gì khù khờ với bố nó, người đàn bà hàng chài đã phải cắn răng gửi đứa con chị yêu thương nhất lên bờ sống với ông ngoại. Ở người đàn bà thầm lặng ấy,” tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc thấu hiểu những lẽ đời hình như mụ chẳng lúc nào để lộ rõ rệt ra bề ngoài”. Khi đứa con chứng kiến cảnh tàn nhẫn đó, người đàn bà “mếu máo” gọi con rồi “chắp tay vái lấy vái để” ôm chầm nó, bởi chị sợ tình yêu thương, sự ngây thơ non nớt cùng lòng căm giận, u tối trong thằng bé sẽ hành động khù khờ. Tiếng khóc của tình thương con và nỗi đau quặn thắt trong trái tim người mẹ, vừa đau đớn vừa xấu hổ nhục nhã. Chị đau đớn vì làm con tổn thương rồi mới đau cho bản thân mình. Khi nhắc đến những lúc hòa thuận trên thuyền “khuôn mặt xám xịt chợt ửng sáng lên như một nụ cười”. Đó là ánh sáng, là vẻ đẹp của tình mẫu tử, mọi thú vui nỗi buồn đều xuất phát từ “vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con chúng nó được ăn ngon”. Thấp thoáng trong hình ảnh người đàn bà hàng chài là bóng dáng người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, kiên trì chịu đựng, giàu lòng vị tha và đức hi sinh “biết hi sinh nhưng chẳng nhiều lời” – Tố Hữu.

Người đàn bà ấy đã để lại một ấn tượng sâu sắc để nhiều năm sau tồn tại, khi nhìn lại “Bức hình Chiếc thuyền ngoài xa” hiện nay nghệ sĩ Phùng cũng thấy người đàn bà bước ra khỏi Bức hình… hòa lẫn với đám đông. Đó là hình ảnh của những con người vô danh khốn khổ trong cuộc sống lầm lũi đời thường. Họ đã kiên trì vượt lên toàn bộ, không phải vì mình mà là vì những người thân yêu.

Qua những nét khắc họa ấn tượng từ ngoại hình dáng vẻ đến cử chỉ, lời nói, hành động,…nhân vật người đàn bà hàng chài trở thành một hình tượng đầy ám ảnh giúp Nguyễn Minh Châu thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc cho truyện ngắn. Đó là niềm cảm thương và nỗi lo âu cho số phận con người xấu số bị cầm tù trong đói nghèo, khốn khổ, bạo lực. Đồng thời thể hiện niềm tin yêu trân trọng những phẩm chất đẹp đẽ trong tâm hồn, tính cách những con người luôn sống cuộc sống lòng người nhân hậu, vị tha.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 3

Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong giai đoạn đổi mới. Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở giai đoạn sau, viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ. Tác phẩm được xây dựng với nhiều nhân vật, nhưng có lẽ nhân vật để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc nhất là nhân vật người đàn bà hàng chài.

Trong tác phẩm, nhân vật người đàn bà hàng chài đó là tâm điểm trong mẩu truyện của Phùng. Nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong phát hiện thứ hai của phùng về chiếc thuyền chài lưới và xuất hiện trong chính mẩu truyện cuộc đời chị kể ở tòa án huyện. Qua đó, cuộc đời, số phận, tích cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở đối với tác giả và người đọc. Người đàn bà hàng chài, không được gọi tên. Chỉ được gọi bằng những đại từ” Người đàn bà, bà…” Người đàn bà chạc 40 tuổi, mang thân hình quen thuộc của người vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, mặt rỗ. Người đàn bà có ngoại hình thật xấu xí.

Trước kia, người đàn bà này sống ở phố. Con một gia đình khá, nhưng không ai lấy vì xấu. Chị đã có mang với anh làng chài và đã có cuộc sống hôn nhân với anh. Người khác nhìn vào cho rằng đây là địa ngục vì ba ngày chị bị một trận nhỏ, năm ngày chị bị một trận lớn. Chị khổ cả về thân xác và tinh thần, giống bao gia đình làng chài khác, gia đình chị đông con, nghèo khó. Người đàn ông xấu xí (anh xã chị), một phần vì cuốc sống làm cho tính cách hắn hung bạ. Hắn dùng cách giải thoát sự bức xúc bằng phương pháp đánh đập chị, chửi rửa chị và những con chị “ Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ” Bị những trận đòn roi những cái quất mạnh của anh xã tàn bạo, nhưng chị vẫn “ Với vẻ mặt cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không tìm cách chống trả, không tìm cách chạy trốn. Trận đòn roi chỉ dừng lại khi thằng Phác lao tới cứu mẹ và đánh lại bố”. Cả hai mẹ con chỉ biết khóc.

Khi gặp chánh án Đẩu và gợi ý cho chị về vấn đề li hôn, chị nhất định không chịu, chị hiểu rằng trên con thuyền này cần một người đàn ông chèo chống vượt qua. Xưa anh xã chị là một con người cục tính nhưng không lúc nào đánh vợ. Nhưng cũng vì cuộc sống khó khăn, làm cho người đàn ông đánh vợ con. Chị nhẫn nhục cam chịu, nhận hết trách nhiệm về bản thân mình. Nhận vì mình đẻ nhiều con mà cuộc sống khổ cực. Theo chị, ông ta trở thành thô bạo như vậy là do hoàn cảnh quá nghèo, quá khổ. Người anh xã vũ phu kia chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt.

Khi bị người anh xã đánh, chị không tồn tại một phản kháng nào, không chống trả, cũng không chạy trốn. Chị coi việc bị đánh như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị đã phải gửi thằng Phác lên rừng để nó không phải hận bố vì thấy cảnh đã đánh mẹ. Chị không muốn li hôn vì không muốn nhìn cảnh những con thấy ba mẹ chia tay. Cũng vì thương con chị đã yêu cầu lão anh xã vũ phu mang chị lên bờ mà đánh vì sợ con nhìn thấy. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.

Tác giả đã thành công trong việc dùng nghệ thuật đối lập. Một bên là người đàn bà xấu xí, phi thẩm mĩ, một bên là vẻ đáng thương, phẩm chất bên trong của con người đáng trân trọng. Người đàn bà trong truyện là người có cốt cách bên trong, biết nhìn xa, thương đàn con nhỏ, giàu đức hi sinh, lòng vị tha, thương anh xã, thương con, am hiểu lẽ đời, sẵn sàng hi sinh bản thân về hạnh phúc, no ấm cho anh xã, cho con. Đây đó là những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam.

Qua hình ảnh người đàn bà hàng chài trong truyện chiếc thuyền ngoài xa, chúng ta vẫn thấy thấp thoáng người phụ nữ Việt Nam, dù vẻ ngoài không đẹp nhưng bên trong là một phẩm chất cao quí, luôn nghĩ tới gia đình, sẵn sàng hi sinh mọi thứ để giữ gìn chăm sóc gia đình mình. Đồng thời tác phẩm đã phản ánh một điều, không nên có cái nhìn một chiều về con người và cuộc sống mà cần phải có cái nhìn chung và toàn diện hơn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 4

Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn tiêu biểu với rất nhiều những tác phẩm được sáng tác trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ. Như lời đánh giá của nhà văn Nguyễn Khải ” Nguyễn Minh Châu là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường rực rỡ cho những cây bút trẻ tài năng sau này”. Ông đã để cho lớp người đi sau một tác phẩm rất đặc sắc mang tên ” Chiếc thuyền ngoài xa” với nguồn cảm hứng vô tận và những bài học từ cuộc sống. Nhân vật trung tâm cho mẩu truyện của ông đó là người đàn bà hàng chài đã để lại trong lòng người đọc rất nhiều suy nghĩ, trăn trở về những mẩu truyện đời.

Sau những bức tranh thiên nhiên cực kì đẹp đẽ, lộng lẫy mà đôi mắt của nhà nhiếp ảnh phùng đã được dịp bắt gặp nhân dịp chuyến đi công tác ở vùng biển. Thế nhưng, phía sau những ánh sáng chói lòa, lung linh ấy là những góc khuất mà con người bỏ lỡ. Hình ảnh của người đàn bà hiện lên hoàn toàn trái ngược với vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây, Đó là một người đàn bà trạc ngoài bốn mươi tuổi, tác giả cũng chẳng biết tên tuổi mà đặt một ngôi “mụ”, ” người đàn bà hàng chài” như để ám chỉ nơi đây, có biết bao nhiêu người phụ nữ cũng đều có chung hoàn cảnh như mụ.

Sau vài nét gợi tả, hình ảnh của người đàn bà với ” một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt, có vẻ như đang buồn ngủ”. có lẽ rằng, những vết rỗ khuôn mặt mụ đều từ gánh nặng của công việc, của nắng mưa gió bão miền biển hẳn lên trên khuôn mặt ấy. Một người lao động lam lũ, chịu thương chịu khó nhưng cái nghèo vẫn bủa vây lấy gia đình của mụ. Sự nghèo khổ ấy còn hiện lên trên “tấm áo bạc phếch có miếng vá, bửa thân dưới ướt sũng”. Từ cách hành xử, đi đứng đến ” tìm tới một góc tường để ngồi” càng làm cho mụ trở thành đáng thương đến tội nghiệp. Một con người dám vượt qua phong ba bão táp trên vùng đại dương mênh mông, nhưng lại trở thành tự ti, mặc cảm khi đối diện với con người.

không những dừng lại ở đó, tác giả đã lột tả thật sâu sắc, chân thực cả những tính cách con người mụ. Một người đàn bà, một người vợ luôn nhẫn nhục, cam chịu điển hình trong xã hội Việt nam. Khi chứng kiến cảnh người đàn ông to lớn, thô kệch giáng những cú đánh mạnh mẽ vào tấm thân yếu ớt của người đàn bà ấy, đến một người đàn ông như Phùng cũng chẳng thể nhẫn nhịn nổi. Vậy nhưng, người đàn bà ấy vẫn cam chịu biết bao lời hằn học, mắng nhiếc. Đôi mắt của chị hắt lên một con đường tối đen không tìm thấy ánh sáng nào trong cuộc đời chị. Có lẽ, mụ đã quá quen và chấp thuận cuộc đời của mụ sẽ phải chịu đựng cảnh ” ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”.

Những đau đớn về thân xác của chị không thể nào sánh với những nỗi đau đớn, giày vò về tinh thần khi chị lo lắng cho con cái sẽ bị tổn thương khi phải chứng kiến những cảnh đau đớn ấy. Thằng con trai của chị thương mẹ, lăm lăm con dao trong tay nhưng người mẹ ấy đã ” chấp tay vái mấy đứa con để nó đừng phạm phải một tội ác trái thường đạo lí”. Tuy nghèo, tuy khổ nhưng chị vẫn biết đạo lí trong đời, chị không muốn con của chị phải đi theo những vết xe đổ nghèo hèn mà cuộc đời ba mẹ nó đang phải trải qua. Lòng chị cũng đau đớn, buồn tủi cực kì khi cái nghèo đẩy cả gia đình chị vào cái vòng quẩn quanh nghèo khổ. Những ngày tháng ăn xương rồng luộc chấm muối, bữa đói bữa no vẫn luôn hiện hữu, thường trực trên chiếc thuyền chật chội, mục nát của gia đình chị.

Tưởng chừng với dáng người thô kệch ấy sẽ chẳng biết đâu là lễ phép đạo lý, thế nhưng với những điều mà chị đã từng trải, vẻ đẹp của tâm hồn của người đàn bà ấy càng trở thành sâu sắc. Khi bị đưa về tòa án, Phùng và Đẩu đã muốn giúp chị giải thoát khỏi cuộc ly hôn ấy nhưng chị đã xin quan tòa rằng ” quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Đến tận cùng nỗi đau, khi đưa cho chị một sự lựa chọn giải thoát nhưng chị lại chối bỏ. có lẽ rằng, người đọc sẽ cảm thấy thật khó hiểu và nực cười cho người bà khù khờ ấy. Thế nhưng, sau những lời tâm tình của chị, người ta mới vỡ lẽ và cảm thấy khâm phục người phụ nữ ấy. Chị vẫn luôn giành cho anh xã những lời ngợi khen, chị biết anh xã chị là người hiền lành cục tính, nhưng cái nghèo đã khiến anh ta trở thành một con người vũ phu, cộc cằn. Hình ảnh của người đàn ông cũng đều có biết bao điểm chung như những nhân vật Chí phèo của Nam cao hay nhân vật Hộ trong tác phẩm Đời thừa vậy.

Chị có cái nhìn sâu xa, thấu hiểu lẽ đời, lòng người, khác hẳn với cái nhìn của Đẩu và Phùng. Người đàn bà ấy biết rõ rằng: thân gái dặm trường, họ cần một người đàn ông để chèo lái con thuyền, con cái của họ cần phải có một người cha để dựa dẫm. Dù cho họ có vũ phu, cộc cằn đến nhường nào thì đó vẫn là một người đàn ông mà họ cần. Họ nghèo nên thiết nghị, họ không tồn tại quyền đòi hỏi một người đàn ông giàu sang, có học vấn. trong những khi đường lối của Đảng trước và sau cách mạng luôn hướng tới bảo vệ nhân quyền cho mọi người, giúp cho nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Thế nhưng, tại nơi đây những con người lênh đênh trên bốn bể là nước, họ vẫn chịu những gánh nặng to lớn của miếng cơm manh áo từng ngày. Sự hi sinh, thấu hiểu cuộc đời của chị càng khiến người đọc cảm thấy xót xa cho một người phụ nữ.

Đằng sau việc trọng tình nghĩa với người anh xã của chị, tình mẫu tử cũng của chị cũng thật đáng ngưỡng mộ. Sợ con tổn thương mà chị đã xin anh xã đưa mình lên bờ mà đánh, thú vui của chị thật giản đơn khi ” vui nhất là lúc được ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó đã ăn no”. Những đứa con là ngọn nguồn sức mạnh để chị sống và tồn tại. ý chí quật cường của chị được bồi đắp nhờ tình thương con, chị chấp thuận hi sinh cuộc đời chị để mong cho con mình có được cuộc sống an nhiên hơn. Tháp thoáng trong hình ảnh người đàn bà làng chài là những đức tính của biết bao người phụ nữ Việt nam luôn yêu anh xã thương con, giàu đức hi sinh và lòng vị tha.

Qua tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, chỉ qua một nhân vật người đàn bà trong truyện mà người đọc như được nhìn thấy cuộc đời của biết bao nhiêu người phụ nữ Việt nam trong mọi thời đại. Tấm lưng bạc phếch, ánh nhìn cam chịu hay nụ cười hạnh phúc khi nhìn những đứa con có lẽ sẽ còn ám ảnh rất lâu trong tâm trí độc giả. Tác giả đã gửi gắm không những niềm cảm thương, xót xa cho số phận con người bị đánh đập, đói nghèo mà còn thể hiện niềm tự hào, trân trọng vì những vẻ đẹp tâm hồn không gì hoàn toàn có thể làm lấm bùn, thui chột.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 5

Nguyễn Minh Châu là một là ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn. Từ sau 1975, ông chuyển hẳn sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết lí nhân sinh. Ông được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới. “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những tác phẩm tiêu biểu phải kể tới của thi sĩ. Hình ảnh người đàn bà làng chài là hình ảnh để lại trong lòng người nhiều ám ảnh, trăn trở về cuộc sống của con người trong giai đoạn đổi mới.

Truyện được kể lại qua lời kể của nhân vật Phùng, một người lính vừa bước ra từ trận đánh tranh nhiều đau thương mất mát. Theo lời đề nghị của trưởng phòng, Phùng trở về chiến trường xưa để chụp một tấm hình cảnh thuyền biển cho bộ lịch Tết. Tại đây, anh đã phát hiện ra một bức tranh để chụp một tấm hình cảnh thuyền biển cho bộ lịch Tết. Tại đây, anh đã phát hiện ra một bức tranh thuyền biển lúc bình minh đẹp như tranh mực Tàu của một danh họa thời cổ. Nhưng éo le thay, đang ngây ngất với cảm giác hạnh phúc thì Phùng phải chứng kiến một cảnh tượng phũ phàng. Đó là cảnh người anh xã đánh vợ một cách thô bạo, còn người vợ thì nhẫn nhục chịu đựng một cách khó hiểu. Phùng từ ngất ngây sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ. hoàn toàn có thể nói, nhà văn đã ra tình huống truyện độc đáo và từ tình huống này mà nhân vật người đàn bà dần hé lộ số phận và tính cách.

Tác giả chỉ gọi nhân vật của tớ là người đàn bà một cách phiếm định. Phải chăng ông muốn nói hộ bao nhiêu người đàn bà vô danh ở vùng biển này? Người đàn bà trong truyện trạc ngoài bốn mươi, cùng anh xã đánh cá bằng thuyền lưới vó ở một vùng biển miền trung.

Người đàn bà có thân hình “cao lớn với những nét thô kệch”, “rỗ mặt”, lúc nào cũng xuất hiện với khuôn mặt “mệt mỏi”, “tái ngắt và có vẻ như đang buồn ngủ”. Cái vẻ ấy gợi ấn tượng về một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, quanh năm phải chống chọi với cái nghèo, cái đói, với thiên tai khắc nghiệp. Ngay từ hình thức bên phía ngoài của nhân vật, tác giả đã dự báo về một số phận lắm éo le, nghịch cảnh. Khắc họa về hình ảnh người đàn bà, Nguyễn Minh Châu triệu tập ở khuôn mặt và đôi mắt – nơi ẩn giấu những bí hiểm của cuộc đời. Ở người đàn bà xấu xí, rỗ mặt ấy có một đôi mắt thật lạ. Đôi mắt đó là cuộc đời chị. Đôi mắt của một cuộc đời không bình lặng. Đôi mắt “ngước nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng rồi… đưa cặp mắt nhìn xuống chân’ đầy vẻ cam chịu. Đôi mắt đã từng “nhìn thấy vào chúng tôi, lần lượt từng người một”, nói những lời đâu phải dễ nghe sau những giây phút “sợ sệt, lúng túng, rón rén đến ngồi ghé vào chiếc ghế và cố thu người lại”. người đàn bà xuất hiện với khuôn mặt mệt mỏi, tái ngắt vì thiếu ngủ, vì lao lực, khuôn mặt chứa đầy những giọt nước mắt trong những vết rổ chằng chịt, khuôn mặt cúi xuống nhẫn nhục khi nói về đời mình, khuôn mặt ấy còn ám ảnh Phùng mãi sau này.

Nguyễn Minh Châu khắc họa đậm nét những chi tiết ngoại hình nhằm giúp người đọc hình dung được cuộc sống khổ đau, xấu số của nhân vật. Bà phải chịu đựng về cả nỗi đau thân xác lẫn tinh thần. Thường xuyên bị anh xã đánh nhưng người đàn bà ấy vẫn quyết gắn bó với người anh xã vũ phu. Trong tâm thức bà luôn lo sợ những con sẽ bị tổn thương, luôn phải che giấu những nỗi đau của tớ nhưng những con vẫn khiến bà thực sự đau lòng vì “bà cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa cực kì xấu hổ, nhục nhã”. Bà đau vì không tránh được cho con khỏi bị tổn thương do bạo hành gia đình. Bà làm như vậy như là để tạ tội với những con vì không thể cho nó một mái ấm hạnh phúc. Bà hiểu được nguyên nhân sự nghèo khổ của gia đình là do đông con, anh xã phải trốn lính, thuyền chật, cuộc sống bấp bênh. Bà hiểu sâu sắc thiên chức làm mẹ, hiểu được thực chất của anh xã. Theo chị, ông ta trở thành thô bạo như vậy là do hoàn cảnh quá nghèo, quá khổ. Người anh xã vũ phu kia chỉ là nạ nhân của hoàn cảnh sống khắc nghiệt.

Tóm lại, nhân vật người đàn bà hàng chài là một người mẹ giàu đức hi sinh và thấu hiểu lẽ đời. Một phụ nữ vẫn giữ được vẻ đẹp truyền thống của người Á Đông là biết nhẫn nhịn, biết hi sinh bản thân vì gia đình, anh xã con. Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, tác giả muốn gửi đến người đọc những suy ngẫm sâu sắc về cuộc đời, về nghệ thuật. “Chiếc thuyền ngoài xa” mang đến một bài học đúng đắn về cách nhìn nhận cuộc sống con người. Đó là cái nhìn đa chiều, ở những cự li không giống nhau, để phát hiện ra thực chất sau vẻ ngoài của cuộc sống và con người. Phải chăng sau mẩu truyện rất buồn này, trái tim nhân hậu của Nguyễn Minh Châu vẫn ấm cúng niềm tin yêu cuốc ông, trân trọng vẻ đẹp của tuổi thơ, của tình mẫu tử, sự dũng cảm và tấm lòng bao dung của người phụ nữ? Đó không phải là vẻ đẹp chói chang, hào hùng mà là những hạt ngọc khuất lấp, lẫn trong cái lấm láp, lam lũ của đời thường.

Cảm nhận của em về người đàn bà làng chài trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa – Bài mẫu 6Nếu những nhân vật trong những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu giai đoạn trước năm 1975 được nhìn nhận từ khía cạnh tiêu chuẩn đạo đức cách mạng, sự góp sức đối với tổ quốc thì sau năm 1975, ông nhìn nhận nhân vật của tớ ở phương diện đời tư, thế sự. nổi trội trong số đó là nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” được Nguyễn Minh Châu sáng tác năm 1987.

Người đàn bà ấy là nhân vật chính trong khung cảnh bình minh ở nơi đầm phá miền Trung – chiến trường cũ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng thời kháng chiến chống Mĩ. Nếu không vì Phùng muốn “thu vào tờ lịch tháng bảy năm sau cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc bình minh” thì có lẽ anh sẽ không bắt gặp được người phụ nữ này và cũng sẽ không tồn tại thời điểm để vỡ lẽ ra nhiều điều từ trong thực tiễn cuộc sống và nghệ thuật. Người đàn bà không được Nguyễn Minh Châu gọi bằng một tên riêng nào cả, ông chỉ gọi người phụ nữ lam lũ ấy bằng những đại từ phiếm chỉ như “người đàn bà”, “mụ”. Phải chăng đây là dụng ý của tác giả vì chị chỉ là một trong vô số những người đàn bà làng chài ở những vùng biển khác cũng vô danh, nhỏ xíu và có một cuộc đời bình thường giống như họ? Phải chăng cũng vì không tồn tại một tên thường gọi cụ thể mà hình tượng nhân vật lại có sức khái quát lớn?

Chị là người phụ nữ “trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch”. Chị bị rỗ mặt, “khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và có vẻ như đang buồn ngủ”. Tấm lưng áo của chị đã “bạc phếch và rách nát rưới”. Với những chi tiết mô tả ngoại hình như vậy, Nguyễn Minh Châu đã khiến bạn đọc hình dung ra một người đàn bà lam lũ, vất vả, chật vật để đối mặt với cuộc sống mưu sinh trên biển đầy hiểm nguy.

có vẻ như số phận đã đẩy hết xấu số lên con người chị nhưng chị lại cam tâm chịu đựng mà không hề có một lời trách móc. Ngoại hình chị xấu xí, vì thế mà đàn ông trong phố không ai lấy chị rồi chị “có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”. Người đàn ông chị lấy khi ấy là một người “cục tính nhưng hiền lành” và không lúc nào đánh đập vợ. Nhưng có lẽ vì sự khắc nghiệt của cuộc sống mưu sinh mà anh ta trở thành vũ phu khiến chị thường xuyên phải chịu những trận đòn roi tàn nhẫn: “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Hành động của người anh xã khiến vị chánh án Đẩu phải gay gắt thốt lên rằng: “toàn nước không tồn tại một người anh xã nào như hắn. Tôi vẫn chưa hỏi tội của hắn mà tôi chỉ muốn bảo ngay với chị: Chị không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy đâu”. Chị đã phải chịu đựng bao nhiêu cơn thịnh nộ từ người anh xã, chịu đựng bao sự khổ cực, bấp bênh của cuộc sống hàng chài mà không lúc nào phản kháng. Chị cam chịu số phận bởi chị là một người vị tha, bao dung và hiểu chuyện.

Người đàn bà hàng chài là người thấu hiểu anh xã mình hơn ai hết. Chị hiểu tại sao người đàn ông hiền lành trước đây lại trở thành nóng tính, bạo lực đến như vậy. Nguyên nhân cũng là do sự đói khổ, bấp bênh của cuộc sống thường ngày. Cuộc sống ấy khổ cực nhường nào khi “vào những vụ bắc, ông trời làm biển động suốt hàng tháng, cả nhà vợ anh xã con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối”. Là một trụ cột vững chắc cho gia đình, là một người anh xã, người cha nên có người đàn ông nào lại dửng dưng vô cảm trước sự việc đói khổ của vợ con mình. Anh ta đánh vợ không phải vì thù ghét vợ mà là vì anh ta bế tắc, cùng quẫn trước cuộc đời khi không thể lo cho gia đình một cuộc sống sung túc. Vì không tồn tại cách nào khác để giải tỏa những tâm trạng tiêu cực đó nên “bất kể khi nào thấy khổ quá” là anh xách vợ ra đánh. Khi chánh án Đẩu và Phùng khuyên người đàn bà nên bỏ anh xã thì chị đã “chắp tay lại vái lia lịa”: “Con lạy quý tòa… Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Rồi chị đã bào chữa cho anh xã bằng những lí lẽ xác đáng và tự nhận hết lỗi lầm về phần mình: “Giá tôi đẻ ít đi, hoặc chúng tôi sắm được một chiếc thuyền rộng hơn”; “nhưng cái lỗi đó là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá, mà thuyền lại chật”. Phải chịu những trận đòn roi và sự đánh đập của anh xã có người phụ nữ nào không đau đớn nhưng người đàn bà hàng chài ý thức được nguyên nhân dẫn đến hành động bạo lực của người anh xã nên chị không hề oán trách, căm giận mà còn hết lòng bao dung, vị tha: “Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”.

không những vậy, người đàn bà hàng chài còn là một người mẹ hết lòng thương con và giàu đức hi sinh. Chị muốn những con của chị được đón nhận tình yêu thương của cả bố và mẹ. Chị muốn những con được lớn lên trong không khí hòa thuận, vui vẻ của gia đình nên chị đã xin anh xã lên bờ đánh để những con không phải chứng kiến cảnh bạo lực gia đình từ chính người bố của tớ. những con còn nhỏ, chúng vẫn chưa thể hiểu được nguyên nhân dẫn tới sự bạo lực của bố nên hoàn toàn có thể sẽ căm thù, oán giận bố. Chị xin lên bờ đánh là để tránh cho những con những sự tổn thương về mặt tinh thần. Khi thằng Phác trông thấy bố đang dùng chiếc thắt lưng “quật tới tấp” vào lưng mẹ thì nó đã “như một viên đạn trên đường lao tới đích đã nhắm”, “nhảy xổ vào người đàn ông” giằng lấy chiếc thắt lưng rồi “lảo đảo ngã dúi xuống cát” vì hai cái tát của bố. Người đàn bà đã “ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Chị không muốn Phác căm thù bố và cũng không muốn nó trở thành bạo lực như bố. Đó là đứa con mà chị yêu nhất nhưng người đàn bà phải gửi nó lên rừng với ông ngoại chỉ vì “sợ thằng bé hoàn toàn có thể làm điều gì khù khờ đối với bố nó”.

Người đàn bà ấy nhất quyết không bỏ anh xã vì “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Chị sống vì con nhiều hơn thế nữa là sống cho mình. Vì con mà chị hoàn toàn có thể nhẫn nhục, cam chịu, vì con mà chị tiếp tục sống với người đàn ông vũ phu ấy chứ không tìm cách giải thoát cho mình. những con đó là nguồn vui, nguồn hạnh phúc của chị bởi đối với chị: “Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”. Đối với một người mẹ, dù bản thân có phải chịu đựng bao nhiêu sự khốn khổ thì họ vẫn luôn muốn những con có một cuộc sống no đủ.

Tuy là người phụ nữ quê mùa nhưng chị lại rất hiểu chuyện. Chị hiểu lấy được lòng tốt của Phùng và Đẩu nhưng đã từ chối lòng tốt ấy: “Lòng những chú tốt nhưng những chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên những chú đâu có hiểu được cái việc của những người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”; “Là chính vì những chú không phải là đàn bà, vẫn chưa lúc nào những chú biết ra làm sao là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không tồn tại đàn ông”. Những lời giãi bày của chị đã khiến vị chánh án và người nhiếp ảnh hiểu ra nhiều điều. Cuộc sống vốn không hề đơn giản như cách mà chúng ta vẫn nghĩ và có những lí thuyết sách vở không thể nào giải quyết một cách thấu đáo ở trong trong thực tiễn. Phùng và Đẩu khuyên người đàn bà li hôn nhưng họ lại không hiểu được những nỗi khổ tâm của chị, không hiểu được tình nghĩa vợ anh xã chung sống với nhau bao lâu nay của chị.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nhân vật người đàn bà hàng chài với sự đối lập về ngoại hình và tính cách, giữa sự xấu số chị phải gánh chịu với tấm lòng vị tha, bao dung và đức hi sinh của chị. Người đàn bà ấy đã mang đến cho toàn bộ bạn đọc chúng ta một cách nhìn nhận trong thực tiễn và bao quát hơn về con người và cuộc đời. Vẻ đẹp của của chị được ẩn sâu bên trong vẻ bề ngoài rách nát rưới, cam chịu. Và tác giả đã “đi tìm hạt ngọc ẩn sâu trong tâm hồn con người” để phát hiện và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách trong những nhân vật của tớ.

Nguyễn Minh Châu đã khắc họa thành công nhân vật người đàn bà hàng chài. Nhân vật này đã giúp bạn đọc cảm nhận được sự thấu hiểu, sự đồng cảm và tình thương mà tác giả giành cho nhân vật của tớ. Qua đó, Nguyễn Minh Châu cũng phần nào khẳng định mình xứng đáng với vị trí là một trong những “người mở đường đầy tài hoa và tinh anh” (Nguyên Ngọc) trong công cuộc đổi mới nền văn học Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 6

Hình tượng người phụ nữ là đề tài trở đi quay về trong văn học. Sự yêu thương giành cho những người phụ nữ sâu sắc bao nhiêu thì trước nỗi đau thân phận của họ những trang viết lại càng nhức nhối bấy nhiêu. Nỗi đau ấy từ thân phận nàng Kiều, những người chinh phụ chảy trong tim những nghệ sĩ đến với những Thị Nở, những cô vợ nhặt…và trở thành đầy ám ảnh trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Ở đây tác giả đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật người đàn bà hàng chài, một người phụ nữ lao động lam lũ, xấu số, trải đời và sáng đẹp tình yêu thương, đức hi sinh và lòng vị tha cao quý. Người phụ nữ xấu số ấy đã để lại cho người đọc một niềm cảm thông và trân trọng sâu sắc bởi những phẩm chất đáng quá của người phụ nữ.

Truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” ra đời trong hoàn cảnh tổ quốc ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái, nhiều tồn tại khiến người ta phải do dự. Truyện ngắn này lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn in năm 1987.

Nguyễn Minh Châu được coi là “người mở đường tinh anh và tài năng” trong nền văn học nước nhà. Là nhà văn luôn đi tìm tòi, khám phá con người ở chiều sâu nội tâm nên những tác phẩm của ông như những văn bản tự sự cỡ nhỏ. Nhà văn hoàn toàn có thể chỉ “cắt lấy một lát”, “cưa lấy một khúc” và “chớp lấy một khoảnh khắc” để phản ánh thảm kịch của cả một đời người và đưa ra triết lí nhân sinh. Tác giả đã xây dựng thành công nhân vật Phùng bên cạnh nhân vật người đàn bà hàng chài để làm nổi bật lên phẩm chất đáng quý của người đàn bà ấy. toàn bộ mọi việc xảy ra trong cuộc đời, số phận, tính cách, cảnh ngộ của chị gây xúc động, trăn trở mạnh mẽ không những với tác giả mà còn với người đọc.

Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ trận đánh tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù..toàn bộ khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa”. Cảnh đẹp ấy khiến cho người nghệ sĩ dường như vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện”. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: Người đàn bà xấu xí, người anh xã vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng. Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.

Đọc hết câu truyện người đọc cũng không biết tên thật của người đàn bà ấy là ai, tác giả đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. như một sự xóa mờ nhằm tô đậm thêm số phận của chị. Khi người đàn bà này xuất hiện ở tòa án huyện để gặp chánh án Đẩu, ta vẫn không biết tên. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu không đặt tên cho người đàn bà hàng chài này, cũng không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một chiếc tên mà là vì chị cũng tương tự hàng trăm người đàn bà ở vùng biển nhỏ xíu này: chị là người vô danh, là hình ảnh tiêu biểu cho cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ như bao người phụ nữ khác không hiếm gặp trên những miền quê Việt Nam. Điều đó chỉ ra một trong thực tiễn rằng, không phải chỉ mình người đàn bà đó gặp xấu số mà có rất nhiều phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ chịu những xấu số như thị. Nhân vật người đàn bà hàng chài ít nhiều cũng làm ta nhớ đến nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Phải chăng vẫn là những số phận của con người đang sống giữa cuộc đời mà sự sống thật mong manh. Cảm thương thay cho số phận những con người.

Tác giả đã dùng những ngôn từ rất đắt giá để mô tả về ngoại hình người đàn bà hàng chài có thân hình xấu xí tàn tạ “trạc ngoài 40, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và có vẻ như đang buồn ngủ”. Vì cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở thành thô kệch. Không những thế tác giả còn triệu tập mô tả ánh nhìn của người đàn bà: “Chị đưa mắt nhìn xuống chân,… nhìn ra ngoài bờ phá”. Cách mô tả của nhà văn không những cho thấy sự tủi cực, vất vả của người phụ nữ ấy mà còn hé mở những đau khổ tinh thần đang giày xéo tâm can

Người đàn bà hàng chài xấu số ấy không những phải chịu thiệt thòi về ngoại hình mà tạo hóa mang lại mà dường như mọi sự xấu số của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người anh xã vũ phu tổn thương, đau xót cho những con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh đã vậy chị lại còn có khuôn mặt rỗ là hậu quả của trận dịch đậu mùa nên không ai thèm để ý, suốt từ khi còn nhỏ. Rồi chị có mang với một anh hàng chài đến mua bả về đan lưới và thành vợ anh xã.

Cứ ngỡ tưởng có một cuộc sống gia đình thì sẽ có hạnh phúc và ấm êm. Nhưng cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,… Bị anh xã thường xuyên đánh đập, hành hạ thường xuyên cứ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Cứ khi nào lão anh xã thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, như đánh một con thú với lời lẽ cay độc “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Quả thực, người đàn bà hàng chài có cả một cuộc đời cơ cực, nhọc nhằn, khốn khổ. Chị là nạn nhân của sự nghèo đói, thất học và lỗi thời. Số phận, cuộc đời chị dần dần hiện ra rõ nét khi chị đến toà án huyện. Số phận đầy thảm kịch ấy được tác giả tái hiện đầy cảm thông và sẻ chia.

Nhân vật người đàn bà hàng chài để lại ấn tượng không thể phai mờ trong lòng người đọc đó là bởi những vẻ đẹp tâm hồn. Là một người phụ nữ yếu ớt phải chịu bao đắng cay tủi phận của cuộc đời nhưng chị lại có một phẩm chất đáng quý. Trước hết là sự nhẫn nhục, chịu đựng vì hoàn cảnh. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình. Chị chấp thuận, không kêu van, không trốn chạy cũng như không hề có ý định rời bỏ gia đình ấy, rời bỏ người anh xã vũ phu của mình. Chị hiểu cơ cực của cuộc sống mưu sinh đầy cam go trên biển nếu không có người đàn ông: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề và còn để đối mặt với những ngày phong ba bão tố. Đó là sự cam chịu, nhẫn nhục đáng cảm thông, sẻ chia thậm chí là trân trọng. Cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được đối với một con người sống đầy trách nhiệm.

Ở nhân vật người đàn bà hàng chài xấu xí và khổ đau ấy có một tình mẫu tử bao la. Mặc dù phải chịu khổ cực, nhưng người phụ nữ ấy quyết cam chịu toàn bộ, làm toàn bộ vì những đứa con thân yêu của mình. Thị nhận thấy rằng, những con là cuộc sống, lẽ sống, là toàn bộ những gì có trên cuộc đời này của mụ. Khi tòa án đưa ra giải pháp li hôn, chị đã từ chối. Có nghĩa là chị từ chối trút bỏ tấm thảm kịch nhục nhã của đời mình. Với người đàn bà này thà bị đi tù, bị đánh đập còn hơn phải bỏ anh xã: “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, nhưng đừng bắt con bỏ nó”. Lí do bà đưa ra thật đơn giản nhưng cũng thật xót xa: cần có anh xã để cùng nuôi những đứa con. Thì ra sự tồn tại của những đứa con là nguyên nhân để người đàn bà ấy sống kiếp cam chịu.

Tình yêu thương của người mẹ giành cho đàn con chính là sức mạnh để người đàn bà ấy nhẫn nhục: “Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất liền được”. Người đàn bà đã chủ động nhận về mình mọi đau đớn để đảm bảo sự tồn tại cho con cái bởi gia đình đông con sống dựa vào nghề sông nước đầy bất trắc. Thậm chí khi bị đánh bà còn chủ động xin anh xã thay đổi địa điểm đánh: “Sau này, con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”. Bà muốn hứng trọn nỗi đau cho riêng mình, không để những con bị tổn thương.

cũng tương tự bà cụ Tứ quay mặt đi giấu những giọt nước mắt vào sâu trong lòng cho riêng mình để Tràng và thị được hưởng chút hạnh phúc nhỏ nhoi trong cuộc sống mưu sinh khi cái đói cái chết cận kề. Tình yêu thương như một bản năng mãnh liệt ngàn đời được bộc lộ một cách cảm động và sâu sắc nhất ở người phụ nữ này. Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa. Nên ai đó có ví công lao của người mẹ như biển Thái Bình thì ta thiết nghĩ cũng thật dễ hiểu.

Thậm chí, bà rất thương yêu thằng Phác, thằng con ương bướng nhất trong số những đứa con của bà, tính nết và ngoại hình của nó giống bố như lột nên rất yêu con mà bà phải gửi có lên rừng cho ông nuôi. Thật đau đớn biết bao khi người mẹ ấy đã phải cầu xin anh xã cho lên bờ đánh để những con không nhìn thấy cảnh đó. Nhưng chính thằng Phác lại tận mắt chứng kiến cảnh bố nó đánh đập mẹ nó thậm tệ. Một tình mẫu tử đã trỗi dậy, theo bản năng của một đứa trẻ con còn suy nghĩ nông cạn nó lao nhanh như mũi tên bắn vào chống trả quyết liệt. Thậm chí nó còn định lấy dao đâm bố. Bởi nó đã hứa với lòng mình chừng nào nó còn ở đây thì sẽ không để mẹ nó bị đánh. Ta vừa cảm thương và vừa tủi giận trước hành động rất con trẻ của thằng Phác.

Và thật bất ngờ khi người mẹ phản ứng trước cách thằng Phác thương mình. Khi gã anh xã tát cho thằng con một chiếc ngã dúi dụi xuống cát và bỏ đi thì lúc này lòng thương con mới trỗi dậy. “Người đàn bà có vẻ như lúc này mới cảm thấy đau đớn – vừa đau đớn vừa cực kì xấu hổ, nhục nhã”. Để rồi miệng bà mếu máo gọi, “người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”. Ta lại tìm thấy một nghịch lí trong cách hành xử của người đàn bà. Tại sao khi bị gã đàn ông đánh chửi vũ phu, tàn bạo bà không xấu hổ, tủi nhục mà khi chứng kiến cảnh con đánh trả bố bà lại đau đớn đến vậy?. Có lẽ lúc này đã có vô số luồng điện chạy trong tâm trí của người đàn bà kia. Liệu thằng Phác nhìn thấy cảnh này tâm hồn của một đứa trẻ sẽ ra sao? Nó nghĩ gì về bố và mẹ nó? Sau này lớn lên liệu có giống tính bố nó không?

Bà đã cố giữ gìn một mái ấm gia đình trước mắt những con để chúng có thú vui và đặc biệt để tâm hồn chúng không bị lắng những cặn bẩn của cuộc sống để vẩn đục tâm hồn. Nhưng giờ đây bà bất lực. Sự chịu đựng và hi sinh của bà đã vô ích chăng? Bởi khi nhìn thằng Phác chẳng hề hé răng thì bà như có cảm giác “như một viên đạn bắn vào người đàn ông và hiện nay đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà làm rỏ xuống những dòng nước mắt”. Cảm nhận được nỗi đau đớn cực đỉnh của người đàn bà lúc này ta mới thấy hết bà yêu thương con đến nhường nào, cái nỗi đau tận cùng vì lòng yêu mà hi sinh nhưng vô ích. Thật cảm động trước tấm lòng người mẹ lao động nghèo khổ này. Hành động giản đơn mà cao đẹp nghĩa tình.

Người đàn bà cằn cõi ấy lại có lòng bao dung, độ lượng vô bờ bến. Sau toàn bộ những nỗi đau mà người anh xã đã gây ra cho bà, bà vẫn có một tấm lòng bao dung, độ lượng đối với anh xã. Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nhìn người anh xã là kẻ vũ phu, thô bạo, đáng lên án. Nhưng qua cái nhìn của người vợ, lão từng là: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không lúc nào đánh đập tôi”. Bị anh xã đánh đập thô bạo nhưng bà cũng không oán trách vì bà hiểu nỗi khổ của anh xã, hiểu cái khổ đã làm người hiền lành trở thành độc ác. Chính cuộc vật lộn mưu sinh đã biến lão trở thành kẻ vũ phu, thô bạo.

Người ta làm điều ác nhiều khi không phải vì người ta xấu mà là vì khổ sở. Bà còn hiểu rằng anh xã mình vừa là nạn nhân khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên bao đau khổ cho người thân của mình cũng chỉ vì nghèo đói, ít học vì cuộc sống mưu sinh. Thậm chí bà còn sẵn sàng nhận lỗi về mình, coi mình là nguyên nhân khiến cuộc sống của anh xã trở thành khốn khổ bởi bà nghĩ: lũ đàn bà trên thuyền đẻ nhiều quá, nhà nào cũng một đặng trên dưới chục đứa con. Chính vì vậy công cuộc mưu sinh như dồn hết lên đôi vai của người dàn ông. Chính vì thế bà nghĩ mình là căn nguyên nỗi khổ và sự tha hóa của người anh xã vốn hiền lành nhưng hơi cục tính xưa kia. Đây quả là người phụ nữ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều, bao dung, độ lượng với anh xã.

Người đàn bà hàng chài dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu là một người trải đời, hiểu đời. Phải nói rằng, nhà văn đã có cái nhìn đầy thương cảm và trân trọng đối với người phụ nữ ấy nên mới khắc họa lên được một người đàn bà hàng chài tuy thất học nhưng không tăm tối, ngược lại rất thấu trải lẽ đời, rất sắc sảo. Đó là phẩm chất phi thường không phải ai cũng có được. Sự trải đời ấy của người đàn bà bị che lấp sau vẻ bề ngoài thô kệch, xấu xí. Thậm chí là những hành động tưởng như đầy lóng ngóng, bỡ ngỡ khi đặt chân vào căn phòng của chánh án Đẩu. Ẩn trong vẻ khúm núm, sợ sệt trước thái độ của Đẩu và sự xuất hiện đường đột của Phùng. Nhưng người đàn bà ấy bỗng chốc trở thành nhanh nhẹn và sắc sảo không ngờ khi bà nói về cuộc đời với những lí lẽ riêng của một con người từng trải. Để từ đó Đẩu và Phùng phải vỡ lẽ và “ngộ” ra bao điều.

Bà hiểu thiện chí của chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng khi khuyên bà bỏ người anh xã vũ phu, tàn bạo. Song bà càng hiểu hơn cuộc sống trên sông nước. Bà chắt ra từ cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ một chân lý mộc mạc nhưng thấm vị mặn của đời thường: “đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. Cuộc sống trong thực tiễn cần có một người đàn ông để làm chỗ dựa, dù đó là người anh xã vũ phu tàn bạo. Bà cũng hiểu và tự hào với thiên chức của người phụ nữ: “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho tới khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Chính vẻ đẹp mẫu tính, đầy hi sinh cao thượng ấy đã tôn vinh người đàn bà với vẻ ngoài xấu xí, thô kệch.

Trong khổ đau, người đàn bà nâng niu chút hạnh phúc nhỏ nhoi đời thường. Cuộc sống của người đàn bà ấy có đau khổ thì nhiều mà hạnh phúc thì quá hiếm hoi. Vì vậy bà rất nâng niu những giây phút vợ anh xã con cái sống bên nhau vui vẻ, hoà thuận. Vì cái hạnh phúc hiếm hoi, ít ỏi đó phải trả giá bằng những hành hạ, bạo tàn những nỗi đau cả thân xác lẫn tinh thần. thú vui lớn nhất là của chị là “lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”.

Với những kiếp đàn bà nhọc nhằn đó nói đến thú vui thật xa xỉ, nhưng sự tận tụy hi sinh cho anh xã con chính là thú vui lớn nhất đối với người phụ nữ. Đó chính là sức mạnh nội tâm nâng đỡ người đàn bà: “lần thứ nhất trên khuôn mặt xấu xí của mụ chợt ửng sáng lên một nụ cười”- Nụ cười được góp nhặt và chắt chiu trong cuộc đời đầy khổ đau, nước mắt với đòn roi. Đó là triết lí sâu sắc về cuộc sống và con người: Quan niệm hạnh phúc của con người nhiều khi thật đơn giản, khát vọng hạnh phúc thật nhỏ xíu mà vẫn nằm ngoài tầm tay.

Nguyễn Minh Châu đã rất chú trọng trong việc mô tả nhân vật. Tác giả đã dùng biện pháp đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách, giữa ngoại hình và tâm hồn, của người phụ nữa ấy để làm nổi bật lên những phẩm chất cao thượng đáng được ngợi ca. Qua cuộc đời của người đàn bà hàng chài, tác giả cũng đưa ra những vấn đề nhức nhối của cuộc sống: nạn bạo hành trong gia đình, sự nghèo đói, thất học, sự tha hóa về nhân cách… những ngang trái, nghịch lý của cuộc sống.

Trong tác phẩm tác giả còn xây dựng một nhân vật nữ như bóng ảnh của người đàn bà đó chính là chị gái lớn của thằng Phác. cô nàng ấy không xuất hiện nhiều trong tác phẩm nhưng cũng để lại những suy tư và ám ảnh. Nếu thằng Phác là bóng ảnh của gã đàn ông thì cô nàng ấy là bóng ảnh của người đàn bà. trong những khi thằng Phác nông nổi thương mẹ bằng phương pháp chống trả bố mình một cách quyết liệt. Thì cô chị gái thể hiện sự trưởng thành và chín chắn của mình. Nó đã kịp ngăn cản thằng em, không cho em làm việc khù khờ và kịp lấy con dao ra khỏi tay thằng Phác. Đó là suy nghĩ của một cô nàng đã trưởng thành và nhận thức.

Đặc biệt, cô chị còn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho người đàn bà, bởi cô ấy gần gũi và bên mẹ một cách lặng lẽ, lặng lẽ không ồn ào như thằng Phác. Đó là cách biểu lộ tình yêu thương của một cô con gái. Hôm người mẹ đi lên tòa án huyện cô con gái đã đi cùng. Cô lặng lẽ ngồi bên phía ngoài đợi mẹ với chiếc áo tím. Khi người mẹ đưa ánh nhìn mệt mỏi nhìn ra ngoài bờ phá cũng là lúc bà bấu víu vào hình ảnh cô con gái thân thương của mình với chiếc áo tím ngồi đợi bà trên chiếc thuyền thúng.

Chỉ với hai chi tiết nhỏ nhưng người đọc có thể tìm thấy những nét tương đương ở cô thiếu nữ trẻ này với người đàn bà hàng chài mà cô gọi là mẹ kia. Liệu sau này lớn lên cô có trở thành người phụ nữ cam chịu, nhẫn nhịn, bao dung, từng trải và am hiểu như mẹ mình hay không? Câu trả lời có lẽ đã tìm được nhưng chúng ta vẫn hy vọng cuộc sống của những người đàn bà ven biển sẽ tốt lên, sẽ không thể những cô nàng áo tím theo chân những người đàn bà hàng chài kia nữa.

Người đàn bà hàng chài có lẽ không những là hình ảnh đeo bám, ám ảnh Phùng mỗi khi anh nhìn vào Bức hình đã chụp của mình mà còn là hình ảnh làm day dứt lòng người đọc sau khi gấp trang truyện lại. Ta do dự tự hỏi lòng rồi thân phận người phụ nữ ấy sẽ ra sao giữa cuộc đời cơ cực, khó khăn. Đó là câu hỏi không những Nguyễn Minh Châu đưa ra trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa cách đây ba thập niên mà còn là vấn đề thời sự ngày nay khi xã hội tôn vinh nữ quyền và chống bạo lực gia đình. vậy cho nên, chắc chắn tác phẩm của Nguyễn Minh Châu mãi mãi về sau vẫn sẽ còn nguyên giá trị.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 7

Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho người đọc là người đàn bà làng chài – người phụ nữ vô danh với tấm lòng bao dung, vị tha, đức hi sinh.

Truyện được kể lại qua lời của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, một người lính vừa bước ra từ trận đánh tranh nhiều đau thương mất mát. Phùng được dịp trở về chiến trường xưa để chụp một bức tranh cảnh biển theo lời đề nghị của trưởng phòng. Tại đây anh đã phát hiện ra một bức tranh cảnh biển có một không hai: “trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù..toàn bộ khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới..toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa”. Cảnh đẹp ấy khiến cho người nghệ sĩ có vẻ như vừa “khám phá thấy cái chân lí của sự hoàn thiện”. Nhưng đằng sau chiếc thuyền đẹp như trong mơ ấy lại là một cảnh tượng phũ phàng: người anh xã vũ phu, thô bạo hành hạ người đàn bà bằng những trận đòn thù, người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng . Phùng từ sung sướng đến ngạc nhiên, sững sờ sửng sốt. Nghịch cảnh ấy khiến lòng anh tan vỡ.

Xuyên suốt toàn bộ mẩu truyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên thường gọi của người đàn bà tội nghiệp ấy, Nguyễn Minh Châu đã gọi một cách phiếm định: khi thì gọi là người đàn bà hàng chài, lúc lại gọi mụ, khi thì gọi chị ta…. Không phải nhà văn “nghèo” ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho chị một chiếc tên mà có vẻ như đằng sau cách gọi phiếm định ấy đã hé mở một cuộc đời ngang trái, một số phận bị vùi dập giữa cuộc sống bộn bề lo toan.

có vẻ như cuộc sống chẳng có gì đáng nói nhưng trong chị lại đựng được nhiều điều kì diệu khiến người khác phải suy nghĩ. Người đàn bà trạc ngoài 40, hình dáng thô kệch, rỗ mặt, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và gợi ấn tượng người đàn bà xấu xí, mệt mỏi có vẻ như đang buồn ngủ. Và cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, vất vả, đau khổ làm cho diện mạo chị đã xấu giờ trở thành thô kệch.

Qua mẩu truyện ở tòa án huyện người đọc hiểu hơn sự xấu số trong cuộc đời chị. có vẻ như mọi sự xấu số của cuộc đời đều trút cả lên chị, xấu, nghèo khổ, lam lũ, lại phải thường xuyên chịu những trận đòn roi của người anh xã vũ phu, tổn thương, đau xót cho những con phải nhìn cảnh bố đánh mẹ… Cái xấu đã đeo đuổi chị như định mệnh, suốt từ khi còn nhỏ. Có mang với một anh hàng chài, đến mua bản về đan lưới, rồi thành vợ anh xã. Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả, lam lũ, bấp bênh. Gia đình nghèo lại còn đông con, thuyền thì chật,…

Bị anh xã thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, như là để trút giận, với lời lẽ cay độc” Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Khi bị đánh chị không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà coi đó là một lẽ đương nhiên.

Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn toàn bộ vì những đứa con. Người đàn bà đã nhẫn nhục, cam chịu. Chị không muốn đàn con phải nhìn thấy cảnh cha đánh mẹ. Chị xin anh xã lên bờ mà đánh khi con lớn. Chị xót xa đau đớn khi phải chứng kiến cảnh thằng Phác đánh cha: “như một viên đạn bắn vào người đàn ông và hiện nay đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, và làm rỏ xuống những dòng nước mắt…’

Người đàn bà ấy là người sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Cái sự thâm trầm trong thấu hiểu lẽ đời có vẻ như chị chẳng lúc nào để lộ rõ rệt ra bên phía ngoài. Chị coi việc mình bị đánh đó như một phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình, chị chấp thuận, không kêu van, không trốn chạy. Khi được đề nghị giúp đỡ thì : “Xin những chú lượng tình cho cái sự lỗi thời”; “Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được nhưng đừng bắt con bỏ nó”.

Chị ý thức được thiên chức của người phụ nữ :”Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho tới khi khôn lớn”. Trong cuộc mưu sinh đầy cam go: thuyền ở xa biển, cần một người đàn ông khỏe mạnh, biết nghề. Sự rất cần thiết của việc có người đàn ông làm chỗ dựa, để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy những con: ” Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đất được”. Chị ” phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”.

Có thấu hiểu được như vậy chúng ta mới hiểu hết tình cảm, tấm lòng của người đàn bà xấu số. Bởi nếu hiểu sự việc một cách đơn giản chỉ việc yêu cầu người đàn bà bỏ anh xã là xong. Nhưng nhìn vấn đề một cách thấu suốt thì suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà là không thể khác được. Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu đó là tình thương con vô bờ bến của chị.

Người đàn bà ấy còn là người giàu lòng vị tha. Chị thấu hiểu nguyên nhân vì sao anh xã lại trở thành như thế. Chị hiểu được trước đây anh xã vốn là anh con trai cục tính nhưng hiền lành, cũng nghĩ cho vợ con nhưng rồi cuộc sống mưu sinh khổ nhọc làm cho anh tha hóa. hoàn toàn có thể chúng ta không chấp thuận cho hành vi tội lỗi của ông nhưng chúng ta phần nào cảm thông cho ông.

Đặc biệt ở người đàn bà là chị cũng đã vẫn giữ trong tâm hồn mình ngọn lửa của hy vọng, của niềm tin để thắp lên hạnh phúc mỏng mạnh: Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc được những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi : “..vui nhất là lúc ngồi nhìn con tôi chúng nó được ăn no”; “ trên chiếc thuyền cũng đều có những lúc vợ anh xã con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ”.

Đằng sau sự nhẫn nhục ấy là bản năng tồn tại mãnh liệt và một tấm lòng yêu thương đáng thương. Người đàn bà hàng chài vừa lam lũ, chất phác, có tình thương con vô bờ bến, vừa luôn mang nỗi đau, vừa có cái thâm trầm trong việc thấu hiểu những lẽ đời. Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của biết bao phụ nữ Việt Nam nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh.

Gấp trang truyện lại người đọc còn mãi ám ảnh bởi những câu hỏi: Cuộc đời người đàn bà ấy rồi sẽ kết thúc ra sau? Những đứa con tội nghiệp của bà có được cuộc sống hạnh phúc? Đó là những vấn đề nhà văn vẫn vẫn chưa đưa ra lời giải đáp. Câu trả nằm trong cuộc sống, hành động của mỗi người chúng ta . Điều đó nói lên giá trị của tác phẩm và tầm vóc to lớn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong văn xuôi Việt Nam hiện đại.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

8


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 8

Nguyễn Minh Châu là một trong số những tác giả tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, bằng ngòi bút tinh ý, nhẹ nhàng, chứa đựng nhiều những bài học, những quan điểm có giá trị nhân văn ông đã mang lại cho nền văn học hiện đại một Xu thế mới. không thể viết về những đề tài chiến tranh thảm khốc, những nỗi đau thương mất mát trên chiến trường, hay sự hào hùng hy sinh anh dũng của những con người ở tiền tuyến và hậu phương.

Nguyễn Minh Châu đã đặt trọng tâm vào việc phản ánh đời sống xã hội lúc bấy giờ, đi sâu vào từng cuộc đời cá nhân với những nỗi đau và những vẻ đẹp lẩn khuất, để sau cuối mở ra những quan niệm mới mẻ về cuộc đời, khiến chúng ta nhận thức được những điều có lý trong chính những nghịch lý của cuộc đời. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Minh Châu với nhân vật người đàn bà làng chài mang trong mình những nỗi xấu số, đớn đau. Tuy nhiên từ trong những nỗi đau thương xấu số ấy, độc giả lại cảm nhận được thật rõ nét những vẻ đẹp tâm hồn đáng quý, cũng như thấu hiểu cảm thông hơn cho nhân vật này, cho những người phụ nữ làm nghề chài lưới ven biển giai đoạn sau giải phóng, khi mà chiến tranh đi qua nhưng những hậu quả để lại trên mảnh đất Việt Nam còn quá lớn và dai dẳng.

Trước hết để diễn tả nỗi xấu số của người đàn bà làng chài, người ta không thể bỏ qua những chi tiết về ngoại hình của chị. Chẳng còn gì đáng buồn hơn là ông trời đã bắt người đàn bà ấy phải chịu nỗi đau của một người phụ nữ có dung mạo xấu xí, chị vốn sinh ra trong một gia đình giàu sang, thế nhưng một cơn đậu mùa đi qua đã để lại trên mặt chị cơ man nào là những nốt rỗ chi chít, rồi trở thành cô nàng quá lứa lỡ thì, rồi sau cuối may mắn nên duyên cùng người anh xã hiện tại. Thế nhưng ấy chẳng phải là cuộc hôn nhân hạnh phúc, viên mãn gì, bởi lẽ lấy anh xã nghèo, chị đã phải hy sinh cả cuộc đời của tớ cho những nỗi lo cơm áo gạo tiền, sau cuối giờ đây chị trở thành một người phụ nữ trung niên, dáng vẻ thô kệch, khuôn mặt tiều tụy, xơ xác, thảm hại cực kì.

Nhưng xấu số của chị không dừng lại ở đó, mà nó còn khủng khiếp hơn khi bản thân người phụ nữ này còn là nạn nhân của cảnh bạo hành gia đình dã man. Bước vào đầu mẩu truyện, người ta đã không khỏi xuýt xoa say mê trước cái cảnh một con tàu tiến vào bờ trong ánh mai hồng, tựa như một bức danh họa thời cổ, một cảnh “đắt” trời cho hiếm có. Thế nhưng giữa lúc ấy bước xuống khỏi con thuyền như mơ, lại là một cặp vợ anh xã, tiều tụy, lam lũ, và khủng khiếp hơn ấy là cảnh người đàn ông dùng thắt lưng quất liên tiếp vào người đàn bà đi cùng vừa đánh vừa chửi rủa đay nghiến những lời cay độc, còn người đàn bà thì chỉ biết chịu đựng, không bỏ chạy, không la hét chống cự. Rồi cả nỗi đau đớn của chị khi phải chứng kiến đứa con trai của tớ là thằng Phác lao vào đánh lại bố nó để bảo vệ mẹ. toàn bộ những Điều đó khiến người ta dễ dàng đưa ra một dấu hỏi lớn, vì sao người đàn bà ấy lại phải nhẫn nhịn và chịu đựng một cách nhu nhược và hèn nhát đến nhường này, trong những khi bản thân chị cũng đều có được sự bảo vệ của thằng con, sao chị vẫn cứ căng mình để nhận lấy những đòn roi từ người anh xã vũ phu, độc ác.

Tuy nhiên, chỉ khi được Phùng và chánh án Đẩu mời lên giải quyết chuyện ly hôn, chị mở lòng tâm sự những điều mình giấu trong lòng lâu nay nay người ta mới vỡ lẽ ra rằng, không phải việc gì chúng ta cho là có lý cũng hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp. Với mẩu truyện của người đàn bà làng chài, khi được Phùng và Đẩu giúp đỡ làm thủ tục ly hôn, giải thoát khỏi cảnh bạo lực gia đình nghiêm trọng, thì phản ứng của chị không phải là vui mừng, hạnh phúc, muốn ly hôn lập tức. Mà trái lại, người đàn bà ấy sống chết cầu xin đừng bắt chị ly hôn anh xã, có lẽ đối với nhiều người đó là một hành động không thể nào “gàn dở” hơn, thế nhưng phải đứng vào vị trí ấy của người đàn bà làng chài chúng ta mới hiểu chị có biết bao nhiêu nỗi lo, nỗi khó xử. Chị không muốn ly hôn anh xã chung quy toàn bộ cũng là tấm lòng thương con của người mẹ, vì những đứa con còn tuổi ăn tuổi lớn của tớ, chị sợ rằng không tồn tại người đàn ông chèo chống lúc phong ba bão táp, thì mình chị làm sao hoàn toàn có thể gồng gánh để nuôi từng ấy miệng ăn qua những ngày biển động. Lão anh xã vũ phu của chị dù có đánh đập, hành hạ chị đến cỡ nào, rồi cũng phải quay về con thuyền này, làm tròn bổn phận của một người cha, ra sức lao động để cùng chị nuôi lớn con cái.

Vì con chị chẳng sợ gì đòn roi, đau đớn, miễn sao là những đứa con của chị hoàn toàn có thể được ăn no, được lớn lên đàng hoàng, khỏe mạnh, là đã đủ khiến chị hạnh phúc, mãn nguyện. Tấm lòng người đàn bà, người mẹ ấy thật bao dung, ấm cúng. không những lo lắng về vật chất, cơm ăn áo mặc, mà hơn thế nữa chị còn lo lắng cả về mặt tinh thần cho những đứa con của tớ, chị muốn chúng có bố như bao đứa trẻ khác, có một gia đình đầy đủ vẹn toàn. Và dù bị đánh đập dã man, chị cũng không muốn để con mình nhìn thấy, chính vì vậy chị luôn xin gã anh xã vũ phu có đánh thì rời khỏi thuyền rồi hãy đánh chị. Bởi lẽ chị không muốn những hình ảnh bạo lực, sự rạn nứt tình cảm gia đình giữa cha mẹ làm tác động đến tâm hồn của con cái. Về chuyện của thằng Phác, khi phát hiện nó thù ghét cha mình, thậm chí có những suy nghĩ lệch lạc, chị đã nhanh gọn gửi nó về nhà ngoại, để tránh việc nó làm ra những chuyện không thể vãn hồi. Có thế mới thấy được tình mẫu tử thiêng liêng của người đàn bà làng chài, dẫu trên tấm lưng và tâm hồn dày đặc những vết thương đau đớn, thế nhưng chị vẫn một lòng bảo hộ chu toàn cho những đứa con bằng phương pháp của riêng mình. Sống một cuộc đời nhiều sóng gió, vất vả và đau thương như thế nhưng bản thân chị không mấy khi nghĩ đến những chuyện đớn đau mà trái lại chị luôn hướng về những tháng ngày hạnh phúc, gia đình quây quần đầm ấm bên nhau trong những bữa cơm, đối với chị chỉ việc nhìn thấy con cái ăn no là chị cũng đã đủ hạnh phúc. Đối với chị “ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho tới khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ” cho nên họ “phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Chị thấu hiểu lẽ ấy, nên chấp thuận nhẫn nhịn, hy sinh toàn bộ để củng cố cuộc đời của những con.

Bên cạnh vẻ đẹp của tình mẫu tử thiêng liêng, ở người đàn bà làng chài còn có vẻ đẹp của sự nhẫn nhịn, cam chịu và tấm lòng bao dung sâu sắc. Đối với việc bị đánh đập tàn nhẫn của người anh xã vũ phu, người đàn bà làng chài không than trách, không kết tội, mà trái lại chị có phần thấu hiểu, cảm thông và bào chữa cho hắn. Chị cho rằng chung quy lại cũng chỉ tại khổ quá, đói kém quá, biết bao nhiêu gánh nặng của một gia đình hơn chục miệng ăn cứ quanh năm suốt tháng đè nặng lên đôi vai của người anh xã, khiến hắn mệt mỏi và cần một nơi để trút giận, trút hết những uất ức lâu nay, xong rồi thì hắn lại quay về lao động, kiếm sống. Chị hồi tưởng về những ngày trẻ và nhắc lại một cách dịu dàng rằng anh xã chị khi ấy “cục tính nhưng hiền lành không lúc nào đánh đập tôi”. Sau cùng chị tổng kết “giá mà tôi đẻ ít đi”, một nạn nhân, một người đáng được che chở bảo vệ, sau cuối lại nhận hết mọi trách nhiệm về phần mình và biện minh cho người đã gây ra biết bao đau khổ cho bản thân. Có tấm lòng nào nhân hậu và bao dung được hơn thế nữa. Thêm nữa có lẽ bản thân chị vẫn luôn ghi nhớ cái ơn nghĩa cứu vớt cuộc đời chị khi xưa của người anh xã, mặc dầu cuộc đời chị hoàn toàn có thể không được trọn vẹn, nhưng ít nhất chị cũng đều có một gia đình và những đứa con của riêng mình, không phải chịu sự cô độc đến già.

Bên cạnh ấy, ở người đàn bà làng chài, lam lũ, ít học, thế nhưng người ta lại nhận thấy được vẻ đẹp của một tâm hồn từng trải, thấu tình đạt lý, có một chiếc nhìn rất đa chiều và sâu sắc về cuộc đời. Chị không những là một con người biết nhẫn nhịn, biết chịu đựng mà bản thân chị còn là một người biết phân biệt đúng sai, chị cũng hiểu được rằng hành động của Phùng và Đẩu cốt là để giúp đỡ chị, thế nhưng phải đứng trong hoàn cảnh của chị người ta mới thấy khó khăn để lựa chọn cỡ nào. Từng lời phân tích, với những lý lẽ mộc mạc, giản đơn, giàu đức hy sinh của người đàn bà làng chài, có vẻ như đã khiến Phùng và Đẩu vỡ ra một điều gì đó. Đó là việc những cái có lý vẫn hoàn toàn có thể tồn tại ngay trong lòng những điều nghịch lý nhất, mà bản thân con người phải có một chiếc nhìn đa diện nhiều chiều thì mới nhận thấy và thấu hiểu được.

Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một trong những tác phẩm xuất sắc phản ánh rất rõ bức tranh xã hội Việt Nam sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, tuy chiến tranh đã đi qua thế nhưng hậu quả nó để lại cho con người, cho mảnh đất quê nhà thì còn mãi dai dẳng, chính cái đói, cái nghèo kiệt quệ đã khiến con người ta khốn khổ, tha hóa. Tuy nhiên không nhằm mục đích nhấn mạnh vào vấn đề này, mà chủ yếu Nguyễn Minh Châu muốn khai thác vẻ đẹp tâm hồn của những con người nhỏ xíu, những khía cạnh đạo đức, từ đó dẫn ra những quan điểm mới về cách nhìn nhận cuộc đời, cách cảm nhận những vẻ đẹp chân chính mà ở đây là hình ảnh người đàn bà làng chài với vẻ đẹp của tình mẹ, sự bao dung và thấu hiểu lý lẽ ở đời.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

9


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 9

“Không thuộc số nhà văn lóe sáng từ tác phẩm thứ nhất, không sớm thành danh như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu giống như người tri ân, tri kỷ với độc giả nhưng phải cùng nhau vượt qua một chiếc dốc núi khá cheo leo. Cũng hoàn toàn có thể ví von ông là một tác giả đã tặng ta một thứ rượu ngon, được chưng cất kỹ lưỡng khi uống phải chậm rãi, nhấm nháp và khi ngấm là say”. Ý kiến đánh giá này của Phan Sư Đệ đã khẳng định được vị trí và tầm vóc của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Trong số những tác phẩm làm nên tên tuổi của ông phải kể tới truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa. Tác phẩm đã gây được ấn tượng sâu sắc với người đọc qua hình tượng nhân vật “người đàn bà”.

Nhân vật “người đàn bà” không phải là nhân vật chính của mẩu truyện nhưng khi đọc Chiếc thuyền ngoài xa, người đọc sẽ không thể nào quên được nhân vật này, một con người có số phận xấu số, khổ cực song vẫn tỏa sáng lấp lánh những phẩm chất cao đẹp.

Nhân vật “người đàn bà” là số phận đại diện cho trăm ngàn người đàn bà hàng chài sống lênh đênh trên sông nước. Nhân vật này không xuất hiện ngay từ đầu truyện và xuất hiện trong một tình huống éo le, oái ăm. Người đàn bà bước xuống từ Chiếc thuyền ngoài xa tuyệt đẹp – là tâm điểm của Bức hình nghệ thuật mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng sau hơn một tuần lễ “phụ kích” đã tìm thấy được. Nhưng Phùng không thể nào ngờ tới đằng sau vẻ đẹp tuyệt đích của Bức hình nghệ thuật lại là một mẩu truyện đời thường, một số phận bi thương, ai oán.

“Người đàn bà” là một phụ nữ xấu số, khuôn mặt bị rỗ chằng chịt, là kết quả của một trận đậu mùa từ tấm bé. Lớn lên, làm vợ một người đàn ông làng chài. Số phận bi thảm của người đàn bà hoàn toàn có thể gọi bằng nạn bạo hành gia đình. Bà bị anh xã đánh đập hành hạ “ba ngày một trận nhẹ”, “năm ngày một trận nặng”, nhưng vẫn không kêu lên một tiếng, vẫn không oán trách, không tìm cách trốn chạy. trong cả khi được tòa án động viên, khuyên nhủ, người đàn bà ấy vẫn kiên quyết không chịu rời bỏ người anh xã vũ phu, độc ác.

hoàn toàn có thể ta ngạc nhiên và thấy kỳ lạ trước hành động và thái độ không bình thường của người đàn bà này nhưng khi những lời tâm thực sự tình của bà, thì chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng và toàn bộ chúng ta mới vỡ lẽ ra căn nguyên của sự việc. Qua những lời kể của người đàn bà, ta phần nào hình dung được về người đàn ông – anh xã bà là một người đàn ông cộc tính nhưng hiền lành ‘chẳng lúc nào đánh đập tôi cả”, nhưng giờ đây, vẫn người đàn ông ấy trở thành một kẻ vũ phu, độc ác, vô nhân tính. Cái gì cũng đều có nguyên nhân, sự thay đổi đó, cái đói khiến cho con người ta quên đi toàn bộ, khiến người ta cáu gắt, lạnh lùng, bực bội. Tội ác sinh ra từ đó, ‘bất kể lúc nào cảm thấy bực bội là lão lại vác tôi ra đánh”. Những lời người đàn bà kể xoáy sâu hơn vào nỗi đau của con người trước tình cảnh đói nghèo – “cả nhà vợ anh xã con cái đều phải ăn xương rồng luộc chấm muối”, đẻ nhiều, đông con, làm ăn khó khăn “trời làm cho biển động cả tháng trời”. Người đàn bà nhìn suốt vào cả cuộc đời mình: “chỉ tại tôi đẻ nhiều quá, cả nhà không thể sắm một chiếc thuyền rộng hơn”. Đó là một thực sự phũ phàng, là hiện tượng phổ biến không thể tránh khỏi của những con người làm nghề chài lưới. Vì thế, gánh nặng cơm áo luôn đè nặng lên vai người đàn ông khiến ông ta không khỏi rơi vào bế tắc, ông ta phải trút mọi uất ức, đau khổ lên một nơi nào đó để giải thoát minh, và nơi trút không đâu khác hơn là người vợ. Và thế là ta hiểu vì sao khi vừa bước xuống bờ, “đôi mắt dữ dằn của lão cứ dán chặt vào tấm lưng bạc phếch và rách nát rưới của người đàn bà”. Lão tìm thất ở vợ căn nguyên đau khổ của cả cuộc đời mình.

Đến khi hai người khuất vào sau chiếc xe rà phá mìn, lão đàn ông “lập tức trở thành hùng hổ, mặt đỏ gay…” hắn trút mọi tức giận bằng phương pháp rút chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, hắn vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, mỗi nhát quật xuống hắn lại rên rỉ trong đau đớn, uất ức: “Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết đi cho ông nhờ!”. Nghe trong những tiếng rên xiết của lão đàn ông độc ác, ta vẫn thấy được nỗi đau xót, bế tắc, bất lực trước hiện thực cuộc sống nghèo khổ, túng quẫn của lão. Vì thế, ta hiểu rằng đánh vợ là cách mà lão đàn ông giải tỏa gánh nặng, đánh vợ nhưng chính ông cũng không cảm thấy sung sướng, nhẹ nhõm gì!

Còn người đàn bà, khi bị anh xã đánh đập, hành hạ cũng không hề kêu lên một tiếng, không hề chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy, phải chăng người đàn bà ấy bị đánh đòn nhiều quá nên thành quen, hay bà ta tăm tối, dốt nát đến mức không thể nhận thức được về quyền sống của tớ. Có lẽ không phải thế? Khi Kiều bị đánh đập, Nguyễn Du đã phải thốt lên rằng:

Thịt da ai cũng là người

Lòng nào chẳng rụng, thắm vào chẳng rơi.

Đúng thế, người đàn bà cũng là con người như toàn bộ chúng ta, có cảm giác, có đau đớn, có khả năng tự vệ. Nhưng vì cuộc sống của bà quá lênh đênh, quá chìm nổi bất trắc trên một chiếc thuyền, với một sắp con nhỏ trên dưới chục đứa, liệu rằng người đàn bà ấy có cách nào khác để thay đổi cuộc sống.

Nhân dân ta có câu “cá chuối đắm đuối vì con”, có lẽ người đàn bà ấy ý thức được hơn bất kỳ ai thiên chức làm mẹ của tớ, vì thế “trên thuyền phải có một người đàn ông chèo chống phong ba bão táp để cùng làm ăn và nuôi nấng đặng sắp con nhỏ’. Bà ý thức sâu sắc số phận và trách nhiệm của tớ đối với con “đàn bà hàng chài sống trên truyền chỉ hoàn toàn có thể sống vì con chứ không thể sống vì mình như đàn bà trên đất được”. Người đàn bà ấy sẵn sàng chịu khổ, chịu hành hạ cũng vì những đứa con. Thấp thoáng trong hình ảnh người đàn bà là bóng dáng của hàng nghìn hàng triệu người phụ nữ Việt Nam đôn hậu, giàu tình thương, cam chịu và giàu đức hy sinh.

Nhẫn nhục đối với anh xã nhưng người đàn bà rất tự trọng đối với con, lo lắng cho tương lai của chúng. Bà nơm nớp lo sợ những hành động bạo lực của người cha sẽ gây tổn thương tinh thần cho những đứa con. Vì lẽ đó, khi những đứa con dần lớn lên, người đàn bà xin với anh xã ‘đưa lên bờ mà đánh”. Bà không muốn con chứng kiến nỗi đau khổ của cả một cuộc đời bà, đối với bà: chẳng gì đau đớn hơn sự tổn thương đầu đời gây ra cho những đứa con. Bà không được chấp nhận con làm gì có lỗi với bố, dù sao đi chăng nữa, người đàn ông ấy vẫn là bố của chúng, vẫn là cái trụ cột vững vàng của cả cái gia đình đông đúc này. Bà lặng lẽ chịu đựng những đau khổ, giày vò về thân xác lẫn tinh thần, chỉ với một mong mỏi duy nhất là nuôi lớn đàn con. Bà dành tình yêu thương cho đàn con, nhất là đối với thằng Phác. Trong đau khổ, tủi nhục song cũng đều có những lúc người đàn bà ấy cảm thấy hạnh phúc. Đó là những lúc nhìn thấy những đứa con được ăn no, ấy là một hạnh phúc đời thường nhỏ xíu và giản dị biết bao nhưng đối với người đàn bà xấu số, điều đó trở thành nghị lực sống, vực bà dậy từ những cơ cực, tủi nhục.

Người đàn bà làng chài ý thức được thiên chức làm mẹ cao quý của tớ và nắm giữ lấy những khoảnh khắc hạnh phúc bé nhỏ trong cuộc sống. Đó đó là lý do khiến những hành động và suy nghĩ của bà đều hướng về một niềm tin gắn bó với thuyền, với người anh xã độc ác, vũ phu. Khi được toà án mời đến và vị thẩm phán cực kì cảm thông sẻ chia với nỗi đau và cuộc sống của người đàn bà, và vẫn kiên quyết từ chối việc ly hôn anh xã. Vị thẩm phán đã nhận được được câu reply tưởng chừng vô lý và lại cực kì thấm thía: “những chú có lòng tốt nhưng những chú đâu phải là người làm ăn, đâu thể hiểu được việc của những người làm ăn lam lũ khó nhọc”. Trước một người đàn bà làng chài thất học, lam lũ mà trải đời, vị thẩm phán thông minh thật bé nhỏ, tầm thường, hoàn toàn có thể anh là một người thông hiểu pháp lý nhưng anh vẫn chưa thực sự thấu suốt lẽ đời. Anh thấy “có cái gì đó mới vỡ ra trong đầu”. Anh thấm thía hơn lúc nào hết nghịch lý của cuộc sống, những nghịch lý khó hoàn toàn có thể chấp thuận tựa như “những chú không phải đàn bà, không thể nào hiểu được những khó nhọc của người đàn bà trên thuyền không tồn tại đàn ông”. Và anh bắt đầu nhận thấy rằng trận đánh chống đói nghèo thực ra là một trận đánh rất cam go, vất vả, phải có một giải pháp trong thực tiễn hữu hiệu chứ không thể giải quyết bằng những thiện chí và những lý thuyết đẹp đẽ xa rời trong thực tiễn. trận đánh ấy còn khó khăn hơn trận đánh chống ngoại xâm, bởi lẽ khi vẫn chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn bế tắc của đói nghèo, con người ta vẫn phải sống chung với cái xấu, cái cũ.

Cuộc sống và số phận của người đàn bà làng chài cũng mang lại cho Phùng, người nghệ sĩ nhiếp ảnh cái nhìn mới mẻ về nghệ thuật, con thuyền nghệ thuật hoàn toàn có thể ở rất xa, con người khó hoàn toàn có thể với tới được nhưng hiện thực cuộc sống ở rất gần ta, xung quanh ta và gắn bó với ta. Đó cũng đó là mối quan hệ mật thiết giữa nghệ thuật và cuộc sống, “nghệ thuật sẽ chẳng là gì nếu không vì cuộc sống mà có” (Phạm Văn Đồng).

Qua số phận đầy cay đắng của người đàn bà làng chài, Nguyễn Minh Châu đã ca tụng phẩm chất cao đẹp của những con người lao động bình thường và đồng cảm sẻ chia với những người phụ nữ làng chài. Thấp thoáng ở đó, ta vẫn thấy ở người phụ nữ nghèo khổ lam lũ ấy những phẩm chất cao đẹp, rất tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam: đảm đang, giàu tình yêu thương và đức hi sinh cao đẹp. Qua hình tượng người đàn bà nhà văn đã sẻ chia, cảm thông với những số phận đau khổ tủi nhục của những người lao động vô danh đông đảo trong xã hội, đồng thời cũng phát hiện, ngợi ca những phẩm chất đẹp đẽ của người lao động. Mặt khác, Nguyễn Minh Châu còn đưa ra trách nhiệm cho đông đảo tầng lớp văn nghệ sĩ phải có cái nhìn đa chiều, đa diện về cuộc sống: “Con người thì đa đoan, cuộc đời thì phải đa sự”.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

10


Bình An

Cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” số 10

Ai đó đã từng nói “ Tác phẩm nghệ thuật chân chính lúc nào cũng là sự tôn vinh con người qua những hình thức nghệ thuật độc đáo”. Phải chăng vì vậy mà ta hoàn toàn có thể bắt gặp nhiều nghệ sĩ có phong thái hoàn toàn không giống nhau trên cùng một giao lộ của hành trình kiếm tìm và khám phá vẻ đẹp tâm hồn con người. Kim Lân với truyện ngắn “Vợ nhặt” và Nguyễn Minh Châu với tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trường hợp như vậy. Nếu như với khả năng viết rất hay về nông thôn và cuộc sống của người dân quê, Kim Lân xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt qua tình huống truyện độc đáo thì với phong thái truyện đậm chất tự sự-triết lí, Nguyễn Minh Châu đã khám phá ra những nghịch lí trong cuộc sống của người đàn bà làng chài. Qua cả hai tác phẩm, những tác giả đều cho ta thấy được vẻ đẹp khuất lấp của người phụ nữ Việt Nam trong những hoàn cảnh khó khăn.

hoàn toàn có thể nói, trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, nhân vật người vợ nhặt tuy không phải là nhân vật chính nhưng vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm.Tuy là một con người vô danh nhưng nhà văn đã xây dựng cho nhân vật của tớ một cá tính đậm nét. Được khắc họa sống động theo lối đối lập giữa bên trong và bên phía ngoài, lúc đầu và về sau, người vợ nhặt hiện lên với đầy đủ đủ những phẩm chất của con người bình dị trong nạn đói thê thảm Từ một cô con gái “ngồi vêu ra ở cửa nhà kho” chao chát, chỏn lỏn đến một nàng dâu hiền hậu, đảm đang, đúng mực là một hành trình đầy bất ngờ với bao biến động trong cuộc đời nhân vật. Nhà văn đã chọn được tình huống truyện thật độc đáo để nhân vật tự bộc lộ giá trị của tớ.

Ở đầu tác phẩm, những vẻ đẹp của người vợ nhặt bị che khuất bởi những con số không tròn trĩnh: không quê quán, không nghề nghiệp, không cả một chiếc tên, không nhan sắc, không lòng tự trọng. Cuộc sống đói khổ càng tô đậm sự xấu xí của thị: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, người “gầy sọp”, “trên cái khuôn mặt xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”. Khi nghe tiếng hò của Tràng, thị “lon ton chạy theo” đẩy xe thóc cùng, hôm sau lại “sầm sập chạy đến”, “cong cớn” đứng trước mặt anh ta để đòi “nợ” rồi “cắm đầu ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc”. Giữa sự lựa chọn nghiệt ngã: hoặc chết đói để giữ sĩ diện hoặc bỏ lòng tự trọng sang một bên để bám víu lấy sự sống, thị đã lựa cách thứ hai.

Song, qua quy trình của mẩu truyện, con người thực sự của nhân vật người vợ nhặt dần hiện ra dưới ngòi bút truyện tài hoa của Kim Lân. Thị “rón rén, e thẹn, đầu cúi xuống, chân bước díu vào nhau” khi đi qua xóm ngụ cư, trên đường về nhà Tràng. Ở đây, ta chỉ thấy một cô nàng hiền hậu, biết ý tứ và ngượng ngùng một cách thật dễ thương chứ không thể cái “cong cớn” vô duyên lúc trước. Buổi sáng sau khi về làm vợ Tràng, thị dậy sớm, quét tước, dọn dẹp, nấu cơm và cư xử, nói năng đúng mực khiến trong cả Tràng cũng ngạc nhiên vì sự thay đổi ấy. Thị trở thành người vợ đảm, người con dâu đảm đang biết lo toan việc nhà. Phải chăng đây mới đó là thực chất đẹp đẽ của con người vợ nhặt? trong cả trong chi tiết theo không Tràng về làm vợ của thị, nếu xét kĩ, ta sẽ thấy hành động ấy thực chất xuất phát từ khao khát tình yêu, hạnh phúc và tổ ấm gia đình cháy bỏng của những người nông dân bình dị. Tóm lại, với nghệ thuật mô tả tâm lí nhân vật tinh ý, Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt với những vẻ đẹp tâm hồn đáng được trân trọng và ngợi ca.

Bên cạnh người “vợ nhặt”, nhân vật người đàn bà hàng chài trong “CTNX” cũng để lại ấn tượng sâu sắc. Là nhân vật chính, nhân vật này có vai trò cực kì quan trọng đối với việc thể hiện giá trị tư tưởng của tác phẩm. Nguyễn Minh Châu đã khắc họa nhân vật khá sắc nét bằng bút pháp hiện thực theo lối tương phản giữa bên phía ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất. Xuất hiện trong tình huống đầy nghịch lí dưới khám phá của nhân vật Phùng, nhân vật người đàn bà làng chài hiện lên với những vẻ đẹp khuất lấp khiến ta xót xa, lo âu và không khỏi trăn trở.

Xuất hiện trước mắt độc giả , người đàn bà làng chài hiện lên với ngoại hình xấu xí, thô kệch: than hình cao lớn, “khuôn mặt mệt mỏi”, “tái ngắt”, “tấm lưng áo bạc phếch, rách nát rưới”. Cuộc sống của chị là một chuỗi những tháng ngày vừa lao động vất vả, vừa phải chịu đòn roi của anh xã: “ ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”. Độc giả hoàn toàn có thể thông cảm với hoàn cảnh xấu số nhưng rất giản đơn bất bình với sự nhẫn nhục, cam chịu quá đáng của nhân vật khi im lặng chấp thuận trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình.

Nhưng phía sau ngoại hình xấu xí và sự nhẫn nhục ấy là cả một tấm lòng vị tha, độ lượng, đức hi sinh cao quý và sự cứng cỏi, dũng cảm hiếm có của người phụ nữ. Chị chấp thuận cuộc sống ấy bởi lẽ chị yêu thương những con, sẵn sàng hi sinh toàn bộ để bảo vệ tổ ấm gia đình. Đối với chị thì “đàn bà ở thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình”. Và dù bị đánh đập, hành hạ bao nhiêu thì người đàn bà ấy vẫn cảm thông với những khó khăn của anh xã, vẫn cứ chắt chiu từng giây phút hạnh phúc trong cuộc sống. Phía sau sự thất học, quê mùa, người đàn bà làng chài vẫn là người phụ nữ sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời. Lí lẽ của chị là lí lẽ của con người từng trải bao sóng gió, khó khăn, không những khiến chánh án Đẩu, photographer Phùng mà còn khiến toàn bộ chúng ta phải ngạc nhiên, cảm phục.

hoàn toàn có thể thấy, cả hai nhân vật đều là những thân phận nhỏ xíu, là nạn nhân của hoàn cảnh nhưng vẫn giữ được những phẩm chất đẹp đẽ, lương thiện. Vẻ đẹp ấy, trong những lam lũ của đời thường, trong những khoảnh khắc khó khăn của cuộc sống hoàn toàn có thể bị che lấp đi nhưng không lúc nào biến mất. Cả Kim Lân và Nguyễn Minh Châu đều thành công ở điểm này, khi mô tả nhân vật bằng những chi tiết chân thực cực kì, vừa làm toát lên số phận đau khổ, cảnh sống khốn cùng của họ, vừa khám phá ra vẻ đẹp khuất lấp bên trong những con người ấy.

Tuy nhiên, giữa hai nhân vật cũng đều có nhiều điểm khác lạ. Vẻ đẹp của người vợ nhặt được khắc họa qua những phẩm chất của một nàng dâu mới, hiện lên qua những chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh trong nạn đói thê thảm. Thị như một luồng gió mới “lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối” của những người dân xóm ngụ cư cũng như gia đình Tràng. trong những khi đó, vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu lại là phẩm chất của người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua những chi tiết đầy kịch tính trong tình trạng bạo lực gia đình. Nhân vật này không khỏi khiến ta do dự, trăn trở về cách nhìn nhận con người cũng như mối quan hệ giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Sở dĩ có sự khác lạ ấy là do phong thái nghệ thuật và thời điểm sáng tác của hai nhà văn. Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quy trình phát triển biến đổi từ thấp đến cao, mang cảm hứng lãng mạn, tiêu biểu cho văn học giai đoạn kháng chiến. trong những khi đó nhân vật người đàn bà hàng chài lại tĩnh tại, không bao giờ thay đổi như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại. Nhân vật này thể hiện rõ cảm hứng thế sự-đời tư trong ngòi bút truyện của Nguyễn Minh Châu sau 1975.

Tóm lại, người vợ nhặt và người đàn bà hàng chài là hai nhân vật được xây dựng rất thành công của Kim Lân và Nguyễn Minh Châu. Tuy có nhiều điểm không giống nhau trong phong thái nhưng với tinh thần nhân đạo cao quý, hai nhà văn đều khám phá và nâng niu trân trọng những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Qua hai tác phẩm, những tác giả còn cho chúng ta thêm tin tưởng vào sự bất diệt của những phẩm chất đẹp đẽ trong con người dù ở bất kể hoàn cảnh nào. Với toàn bộ giá trị về nội dung và nghệ thuật ấy, chắc chắn cả hai nhân vật cũng như tên tuổi của Kim Lân và Nguyễn Minh châu sẽ có sức sống lâu dài trong kho tàng văn học dân tộc.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Từ khóa: Top 10 Bài văn cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (lớp 12) hay nhất, Top 10 Bài văn cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (lớp 12) hay nhất, Top 10 Bài văn cảm nhận về nhân vật người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (lớp 12) hay nhất

Có thể bạn quan tâm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *